Đăng bởi: leminhtam | Tháng Chín 26, 2015

Chuyện các cháu ở Trại Nhi đồng kể (18)

TRẠI TRẺ CỦA CHÚNG TÔI

Trần Thảo Nguyên, Trần Trọng Đức, Trần Hoàng Sa, Trần Trọng Tĩnh là con cô Hồng Diệm và chú Trần Trọng Biền. Các bạn đã được cô chú gửi ở Trại Nhi đồng Miền Bắc, Trại Nhi đồng Miền Nam, Trại Sơ tán Vĩnh Phú. Sau này Thảo Nguyên là TS. Trưởng khoa Triết Học viện Ngân hàng Hà Nội; Trọng Đức cũng là TS. Trưởng Khoa Xã hội học Học viện Hành chính Quốc gia; Hoàng Sa là cán bộ nghiên cứu Viện Địa lý; Trọng Tĩnh làm việc ở Ngân hàng Techcombank.

Thảo Nguyên: Thăm nhà cô Thắm nhớ chuyện xóm Si

Tôi ở trại Miền Bắc đến năm 1960 thi ra trại, khi ấy còn bé quá, tôi chẳng nhớ gì nhiều. Thế mà hôm tôi cùng chị Minh Tâm và vài bạn nữa đến thăm cô Thắm, nhìn thấy chúng tôi cô nhận ngay ra: ”Cháu là Thảo Nguyên, con mẹ Diệm? ”. Phục sát đất vì trí nhớ tuyệt vời của cô. Về nhà nghĩ lại tôi chợt hiểu phải yêu các cháu đến chừng nào để gần 50 năm sau vẫn nhận ra.

Cô kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện: chuyện Bác Hồ chia kẹo mà có bạn xin ức ức cái; chuyện cô đưa chúng tôi đi biểu diễn văn nghệ quyên góp ủng hộ đồng bào Angiêri đuợc Bác Hồ đến xem, Bác hỏi một bạn: “Cháu đến biểu diễn để làm gì ?”, bạn ấy lúng túng thì có một cô “gà” cho bạn: “Biểu diễn để quyên góp …”, Bác Hồ nghe thấy liền phê bình: “Các cô là cô giáo phải giải thích cho các cháu biết ý nghĩa của việc mình làm, không được “nhắc bài” như thế!”.

Nghe cô kể chuyện tôi nhớ lại khung cảnh Trại Nhi đồng Miền Bắc của chúng mình ở 20 Thuỵ Khuê: có con đường nhỏ rải sỏi, bên phải là rặng cây và bên trái có nhà thường trực và vài luống hoa rất xinh. Tôi cũng nhớ lại những ngày bị ốm, hình như bị quai bị thì phải nên phải ở phòng cách li, tuy được các cô chăm sóc chu đáo nhưng vẫn rất buồn, ở đó có cái cửa sổ quay sang doanh trại bộ đội. Thế là tôi đứng nhìn sang và được các chú hỏi chuyện. Tôi cũng nhớ cả những ngày cả Trại được đi nghỉ hè Đồ Sơn, lần đầu tiên được nhìn thấy biển rộng quá,…

Trại Sơ tán nằm ở xóm Si. Xóm Si thuộc xã Tân lập Huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh phú, nếu theo đường quốc lộ từ Hà nội lên thì rẽ phải vào xóm Si, còn rẽ trái thì sang Kha Vũ. Chẳng biết trí nhớ của tôi có gì sai không nhưng trong tôi con đường vào xóm Si thật đẹp, đường đồi đá ong màu đỏ rợp bóng cây trám và ven đường là rừng cọ lúc nào cũng xanh thắm, mát rượi. Trại của chúng tôi ở gần cuối con đường đó, rẽ trái là đến giếng Cây Trám mà mỗi ngày đến lượt trực nhật chúng tôi cùng nhau khiêng nước về giúp Bác Tâm nấu cơm. Ở xóm Si chúng tôi đi học ở trường cấp 2 Tân Lập, lớp học sơ tán đào nửa chìm nửa nổi giữa rừng cọ. Có lần máy bay rơi, chúng tôi được thầy giáo cho đi bắt phi công Mĩ. Phải bơi qua phai (con mương) tôi cứ loay hoay mãi, thầy giáo thấy thế cõng luôn nhưng sang đến bên kia mới biết là phi công ta bị rơi chứ không phải là phi công Mĩ.

Nhà bác chủ của chúng tôi ở Xóm Si có rất nhiều cây mít, nhà bác làm bằng gỗ khá rộng. Bác chủ cho tôi, Như Anh và Ngọc Hà ở nhà ngoài; còn cô Hiên và hai em Thanh Hương, Thanh Nghị ở trong buồng. Có lần Chú Trầm – chồng Cô Hiên – về phép cho chúng tôi mỗi đứa một cái bàn chải, thích lắm.

Tôi học lớp 6 thì ở xóm Si, còn các em tôi là Trọng Đức, Hoàng Sa, Trọng Tĩnh thì ở Kha Vũ. Cứ Chủ Nhật thi được đi sang đó thăm các em. Tôi và Thanh Yên – con cô Hảo, hay rủ nhau đi cùng. Mỗi lần mua một hào ổi được 10 quả sang thăm các em. Có một lần hai chị rộng rãi mua hẳn một quả mít, tôi nhớ đến tận bây giờ.

Ở Trại Sơ tán Tân Lập – Lập Thạch, tôi còn nhớ có các bạn và các em như Minh Tâm, Xuân Nguyên, Như Anh, Như Hà, Ngọc Hà, Minh Trí, Nam Dũng, Kim Thuỷ, Hoàng Dũng, Mai Hương, Phương Anh, Phương Nam, Phương Bắc,… Nhớ nhất là các cô: Cô Tuỵ Phương, cô Ang, cô Ca, cô Chấn, Bác Dưỡng , cô Hiên,… Các cô từng khổ sở vì nhiều cháu nghịch ngợm. Có lần Trọng Đức và Tam Anh cầm đầu một lũ đi dọc theo phai để tìm đến đầu nguồn, hình như ra tận bến Then làm các cô đi tìm hết cả hơi.

Ước gì lại được quay về thăm nơi cũ – xóm Si của chúng tôi ngày ấy!

So với các bạn cùng thời, chúng mình đã có những ngày thơ ấu thật hạnh phúc, được các cô, các bác chăm chút thương yêu trong một gia đình lớn. Hội trại lần này chúng mình sẽ cùng về NHÀ thăm các mẹ của chúng mình đi.

Huỳnh Nam Dũng: Phải hình dung cảnh vật nhỏ lại mới nhận ra chốn cũ

Chị Nguyên còn nhớ tương đối nhiều về Tân lập, nhưng còn chưa chính xác. Thật ra nếu đi từ Hà Nội lên thì Xóm Si ở bên tay trái, còn Kha vũ thì ở bên tay phải. Cách đây hai năm, Dũng có đến tận nơi. Không biết đáng mừng hay đáng buồn khi thấy cảnh vật không thay đổi một tí gì, dường như thời gian bị đông cứng lại và lãng quên. Từng bụi cây, gò đất, con kênh và cả ngôi nhà cũ kỹ đơn sơ của chủ nhà vẫn như cũ chỉ có chủ nhân, con cái, người cho mình ở nhờ thì đã qua đời. Ngôi trường thì đã dời sang bên kia đường về phía Kha vũ và được cất lại khang trang. Đường về Xóm Si ngày nay dễ đi nhưng phải hình dung cảnh vật nhỏ lại mới nhận ra. Qua thị trấn Xuân Hòa chừng 1 km là tới. Tuy cảnh vật không thay đổi, nhưng phải hình dung cảnh vật bé nhỏ hơn rất nhiều, ví dụ trong tâm trí mình hồi xưa là một quả đồi hùng vĩ thì bây giờ thấy như một gò đất. Nếu không thì khó mà tìm ra chốn cũ

Hoàng Sa: Kỷ niệm về Trại trẻ chúng tôi theo suốt cuộc đời

Tôi đã sống ở các Trại Nhi đồng Miền Nam, Trại sơ tán Lập Thạch. Kỷ niệm về trại trẻ của chúng tôi luôn theo suốt cuộc đời, chẳng hiểu vì sao mà tôi vẫn nhớ mãi. Khi ở Trại Nhi đồng Miền Nam tôi vẫn còn nhỏ lắm. Trại ở gần Gò Đống Đa trong khuôn viên rất đẹp. Nhà nước rất chăm lo cho các cháu con em cán bộ Miền Nam nên Trại được sửa sang thường xuyên. Tôi vẫn nhớ các cô chú công nhân đẩy xe cút kít chở nguyên vật kiệu để sửa sang trường với một lũ trẻ con cứ chạy theo sau.

Rồi kỷ niệm Bác Hồ đột ngột đến thăm trại và chia kẹo cho các cháu, đứa nào cũng giữ khư khư chẳng dám ăn. Rồi những những bữa ăn chúng tôi đánh vãi cơm rất nhiều bị má Lánh, bà Hai phê bình và nói rằng: ”Các con có biết không mỗi hạt gạo, hạt cơm là một giọt máu của đồng bào Miền Bắc, đồng bào Miền Nam đổ xuống”. Vậy là chúng tôi không đứa nào làm vãi cơm nữa. Một lần chị Thảo Nguyên đi đón hai em Đức, Sa ở Trại Nhi đồng Miền Nam, khi ra đến bến xe điện ở gần Gò Đống Đa, lúc đi qua một hàng bánh đa, cả mấy chị em thèm quá nên ra quyết định lấy tiền mua vé xe điện để mua bánh đa ăn, sau đó đi bộ từ Gò Đống Đa về đến bến xe điện gần nhà tận chợ Đồng Xuân.

Chiến tranh lan rộng ra Miền Bắc, cả bốn chị em tôi đều đều được đi sơ tán lên Trại Sơ Tán Vĩnh Phúc của cô Phương. Chị Nguyên, anh Đức và tôi ở trại lớn bên xóm Si, còn em Tĩnh ở trại bé bên Kha Vũ. Lúc mới sơ tán đến đây chúng tôi được đồng bào cho ở cũng trong các căn nhà nhỏ của gia đình họ, tôi nhớ tôi ở nhà bà Bình. Mãi sau này các cô xây nhà dài ở trên đồi, ngày ấy chúng tôi cũng được tham gia xây nhà, đứa buộc lạt, đứa trát vách, đứa san nền,… Xây xong nhà là giai đoạn làm giường cho các cháu. Giá mà bây giờ còn lưu được cái giường này thì hay biết mấy! Đó là những cái giường dài làm bằng cây mai, cây vầu dập ra chạy suốt nhà. Nằm trên những cái giường đó còn êm hơn nệm mà mọi người đang nằm đấy. Trước nhà là một giàn su su mà cô cháu chúng tôi trồng cho mát và lấy quả cải thiện cho bữa ăn. Khi cây ra quả, mỗi đứa nhận một quả là của mình rồi hàng ngày thi xem quả của ai lớn nhanh hơn. Bên cạnh nhà là một cái sân chơi do các cô chú ủi phẳng một góc quả đồi. Từ đây chúng tôi có thể phóng tầm mắt ra những cánh đồng lúa nằm phía dưới, dưới đó có một cái phai (tiếng địa phương nghĩa là con suối sâu), nơi mà cô cháu tôi vẫn thường xuống tắm giặt. Cái phai này đã từng được các anh Tam Anh, Trọng Đức, Ngọc Thiệu, Quốc Cường,… rủ nhau đi thám hiểm nguồn của nó và bữa đó khi các anh trở về bị các cô phạt cho một trận.

Chúng tôi ở Trại Sơ tán quý mến nhau như chị em trong một nhà và tất nhiên cũng có lúc cãi vã nhau. Tôi vẫn nhớ có lần chẳng hiểu mọi người cãi nhau về chuyện gì mà kéo nhau tới rách cả áo. Mấy chị em Thu Nga, Nguyệt Ánh, Minh Lý, Hoàng Sa,… lại hì hục ra đằng sau nhà khâu vá lại cho nhau kẻo sợ các cô biết. Tôi còn nhớ các cô không chỉ dạy chữ mà dậy cả vá may, thêu thùa và lao động như đi vào rừng lấy củi, nhổ cỏ ở ruộng lúa,… Cô Khanh, cô Hiên dạy chúng tôi tập viết, làm toán ở nhà. Cõ lẽ hôm nào Hội trại lần nữa thì mọi người hãy cùng nhau viết vào sổ lưu bút, so sánh chữ của nhau, có lẽ sẽ có những nét giống nhau và đó là nét chữ của cô Khanh, cô Hiên đấy. Ôi nhiều kỷ niệm quá, hôm nào gặp nhau kể tiếp.

Đọc quyển “Nghĩa tình, năm tháng, cuộc đời” tôi cũng đọc được dòng tâm trạng chung của mọi người về cô Tụy Phương khi chú Xuân Ngọc – chồng cô Tụy Phương – viết về cô ở trang 335-337: “Ở Tụy Phương, cơ sở, cái gốc của cái tài dân vận ấy là cái đức. Ở đây tài với đức là một, và cái đức lớn nhất, tiêu biểu nhất ở Tụy Phương là tình người, là cái Tâm, là tấm lòng. Cái tâm sáng và tấm lòng nhân hậu, thủy chung. Ở chị đức tính ấy giống như hơi thở, là bản chất của chị.

Đầu năm 2001, tôi trò chuyện với vợ chồng anh Phạm Tuấn Khánh và chị Nguyễn Thị Nhàn, đều là bạn, là đồng chí cùng hoạt động với chúng tôi từ hồi còn là học sinh Thăng Long, tức là cách đây đã hơn 60 năm. anh Phạm Tuấn Khánh vừa thấy tôi đã nói ngay:

“Chúng mình cứ lấy làm lạ, tại sao một người có trình độ học vấn và trình độ chính trị như thế, suốt bao nhiêu năm lăn lộn với cách mạng cho đến Tổng khởi nghĩa, mà lại nhận làm cô nuôi trẻ?”

“Có lẽ như người ta nói đó là số phận”.

“Số phận gì? Ai bày đặt ra số phận ấy? Ở đây có vấn đề lẽ công bằng và sự công tâm, cách đánh giá và sử dụng cán bộ. Chúng tôi đánh giá cao chị Tụy Phương nên cứ tiếc cho chị ấy, chị là tấm gương phấn đấu phục vụ cách mạng”.

“Dù thế nào thì Tụy Phương rất yêu mến việc mình làm, yêu mến và hết lòng vì các cháu, và tìm thấy ở đó niềm vui và hạnh phúc”.

Quả thật, Tụy Phương đã chịu nhiều thiệt thòi, hy sinh. Phương là người khao khát hiểu biết, ham đọc sách, ham học tập, chị muốn không ngừng nâng cao trình độ ngang tầm nhiệm vụ. Rất tiếc là nguyện vọng ấy không thực hiện được. Chị tự học, tự học không ngừng. Chị nói: có nhiều điều chị đã làm, đọc sách thấy cũng nói như vậy, và chị thêm tự tin. Bằng vào những sách và tài liệu nghiên cứu của Phương mà tôi còn giữ, có thể nhận thấy sự say mê và công phu tự học rất lớn.

Tuy thế, giữa bao nhiêu công việc bề bộn, khó có thể đọc nhiều, tập trung, liên tục, có hệ thống, thật đáng tiếc.

Nhiều cơ quan xin, Hội không cho đi. Giá có đến cơ quan khác, thì chắc Phương cũng sẽ làm những công việc liên quan đến trẻ em và nữ thanh niên.

Câu trả lời cho đề nghị chính đáng của Tụy Phương là: chị Phương đi thì ai nuôi trẻ? Trong khi không thiếu gì người có thể làm việc đó, Người ta có lý do để nghi ngờ công tâm và nhân tâm trong các quyết định ấy. Trong lúc đó, người ta đánh giá thấp công tác nuôi dạy trẻ và người nuôi dạy trẻ. Có năm Phương được bầu là chiến sỹ thi đua, và được đề cử đi dự Hội nghị Chiến sĩ Thi đua Toàn quốc, thì có người phản đối: Chị Phương chỉ làm công tác nuôi trẻ, không đại diện cho cơ quan phụ nữ được. Một cô văn phòng được cử đi thay chị”.

Ôi trời, đọc và thương cô quá!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: