Đăng bởi: leminhtam | Tháng Tám 6, 2015

Chuyện các cháu ở Trại Nhi đồng kể (8)

KHI BỐ VẮNG NHÀ (tiếp)

Là chị phụ trách, tôi muốn đưa các em đi chơi ngày Chủ nhật. Tôi hỏi: “Các em muốn đi chơi đâu nhất?”. Cả lũ đồng thanh: “Muốn đi chơi hồ Tây để bơi, bơi thuyền”. Thế có chết không. Học ở nước ngoài nhưng tôi chưa bao giờ ngồi xuống thuyền để bơi cả, thỉnh thoảng ngồi ngắm các bạn khác bơi thuyền, trượt băng,… tôi chỉ thích đi hái hoa quả, chơi bóng bàn, bóng chuyền, đi bơi cũng suýt bị chết đuối. Thế là tôi quyết định ra công viên Thống nhất tự học bơi thuyền một mình. Học ròng rã trong vòng 10 ngày. Khi thấy mình đã có vẻ vững trãi trên thuyền, tôi bèn đề nghị các em: “Chủ nhật tới ai muốn đi chơi thuyền Hồ Tây thì xin phép bố mẹ cho đi. Tất cả các em lớn đều phải mang xe đạp của nhà hoặc mượn xe để đèo các em nhỏ cùng đi”. Thế là một đoàn chị em rồng rắn đèo nhau ra Hổ Tây thuê thuyền để bơi. Đúng là điếc không sợ súng! Bây giờ tôi thật sự ngạc nhiên là tất cả các gia đình lúc ấy đều đồng ý cho các em đi chơi với tôi, nhất là khi họ vẫn biết là tôi sẽ cho các em bơi thuyền ở Hồ Tây. Thế mới biết là các em khao khát được đi chơi ngày Chủ nhật đến thế nào và mẹ các em cũng rất muốn cho các em đi chơi mà lúc nào cũng bận, vì vậy ai dẫn các em đi chơi là họ đồng ý ngay, nhất là chị phụ trách các em thì lại càng đáng tin hơn. Tôi lên thuyền trước thao tác cho các em lớn xem, dạy các em cách ngồi lên thuyền cho cân bằng và dùng mái chèo, đẩy nước như thế nào cho thuyền chạy và lái thuyền thế nào. Thế rồi cứ 3 đứa ngồi một thuyền, hai em lớn ngồi ở hai mũi thuyền, còn một em bé ngồi giữa khoang thuyền. Cứ thế cả một đoàn thuyền hơn chục chiếc tiến ra giữa Hồ Tây. Đến giữa hồ tôi mới bắt đầu cảm thấy sợ vì các em cứ tự do đi theo ý của mình giữa hồ nước mênh mông, gào khản cả cổ mà vẫn không chịu về. Tôi còn nhận ra, có em đang ở mũi thuyền này lại chuyển sang ngồi ở mũi thuyền khác. Tôi hỏi: “Vì sao các em chuyển chỗ trên thuyền được?”. Thấy chị phụ trách hỏi, các em khoái chí lắm bảo: “Cả ba đứa đứng lên dạng chân ra, rồi một đứa bò qua chân hai đứa kia”. Có thuyền còn bắt được cá do cá nhảy vọt lên,… Phải gào thét mãi cả lũ thuyền mới quay về được bến. Nói tóm lại là sợ quá, đúng là điếc không sợ súng, hết cả hồn, nhỡ có việc gì chẳng biết nói với mẹ các em ra sao.

Tuy vậy, việc bơi thuyền vẫn diễn ra vào các Chủ nhật sau nhưng với kỷ luật cao hơn, ai không nghe lời chị đi quá xa thì cho nghỉ luôn. Các em rất thích được đi chơi nên không phải nói nhiều mà vẫn tuân thủ rõ đúng các quy định chặt chẽ hơn do chị đặt ra. Thỉnh thoảng không đi bơi thuyền thì chuyển sang bể bơi Quảng Bá, ai biết bơi thì xuống, còn ai không biết bơi chỉ được men men ven bờ hoặc ngồi ở trên bờ trông quần áo cho các anh chị, ngồi ăn bánh kẹo hoặc hát hỏng với nhau. Tôi phải ngồi trông các em nhỡ có sự cố gì còn ra tay, tuy không được bơi nhưng cũng vui lắm. Cũng may là trong suốt thời gian đó mọi thứ vẫn yên lành, không có việc gì xảy ra cho đến khi nhà em nào cũng có bố về để đưa đi chơi. Nhưng cũng có nhà bố không bao giờ trở về. Vào ngày 27/7 các em thường đến hát múa cho mẹ và các bạn đó vui. Các em làm việc đó rất nhiệt tình và vui vẻ, thế mà có một lần chẳng hiểu sao đến ngày 27/7 thấy các em ríu rít kéo đến thì cô bỏ đi mất, chỉ còn các bạn ngồi vui vẻ với nhau thôi. Khi các em ai về nhà nấy thì cô mới trở về. Tôi hỏi cô: “Sao cô lại bỏ đi như vậy?”. Cô bảo: “Vì cô nhớ chú, những ngày như thế làm cô buồn, cô không thể vui được”. Hóa ra là như vậy. Từ đó, vào ngày 27/7 mọi người không đến nhà cô để hát múa nữa mà chỉ đến giúp cô làm việc nhà thôi. Cô quần quật vất vả quét lá, nuôi lợn, lội nước khuân đồ đạc mỗi khi nhà ngập lụt để nuôi 4 đứa con nên người. Thế mà đến khi một em đi lao động ở Đức xây được nhà mới cho cô, chưa đón được cô về thì cô đã mất rồi nên ai cũng thương cô.

Để có thể đưa các em đi chơi hàng Chủ nhật như vậy, với số lượng nhiều em như vậy thì tôi không thể dựa vào đồng lương của mình, cũng không thể quyên góp tiền từ gia đình các em vì tiền ăn còn chưa đủ nói gì đến đi chơi. Thế là lại phải liên hệ với các chủ công trình xây dựng trong khu tập thể để cho phép các em giúp họ khuân gạch, vôi, sỏi đá,… từ chỗ nọ đến chỗ kia mà họ cần để lấy tiền. Vì thích được đi chơi nên các em làm rất tích cực. Mấy chị em cứ đến tối lại giúp họ làm phu khuân vác, em nào chở được bao nhiêu thì chở, vài viên cũng được, hoặc đứng xếp hàng thành dây chuyền để chuyền gạch đất, không khí đông đúc vui vẻ làm các em rất vui, đỡ nghịch quấy bậy bạ, các em bé thì đun nước đem ra mời các anh chị lớn uống,… Còn những khi không có việc thì các em tụ tập ở nhà tôi để xem ti vi. Hồi đó ở Việt Nam mới có truyền hình nên chả nhà nào có ti vi để xem, tôi có một chiếc là do đem từ nước ngoài về nên cứ đến tối là hàng chục em kéo đến xem như một rạp chiếu phim. Các em lúc bấy giờ thích nhất là chương trình “Những bông hoa nhỏ” có nhạc giống chương trình thiếu nhi hiện nay. Vì bố vắng nhà nên các em có nhu cầu quy tụ để bảo vệ lẫn nhau khi có những đứa trẻ ở nơi khác đến gây gổ. Khi không có mục tiêu cụ thể hoặc do bị thách đố vớ vẩn nổi máu iêng hùng thì cũng có khi chính các em lại đến gây gổ ở nơi khác, đánh nhau, chửi bậy,… vì vậy cái tên “quân khu” của trẻ con trong khu tập thể chủ yếu do đánh nhau đã nổi tiếng khắp Hà Nội lúc bấy giờ. Việc sinh hoạt chung như vậy phần nào giảm bớt tiếng tăm đánh nhau của các em trai trong khu tập thể. Tính quy tụ này của các em còn giữ mãi cho đến khi đi lớn lên, ra nước ngoài,… Thí dụ: chỉ cần nói đến địa chỉ khu tập thế là có khả năng được vay vốn để buôn bán khi mới chập chững ra nước ngoài rồi mà không phải thế chấp cái gì cả. Vì bố vắng nhà không có ai chơi cùng nên các em trai khi ngồi túm tụm với nhau thường hay nghĩ ra các trò nghịch ngợm dại dột. Thí dụ: em trai lớn của tôi và các bạn thi “bay” từ tầng hai xuống đất giống Tôn Ngộ Không, may đất tầng một lúc đó vừa ngập lụt xong còn mềm nên các em không bị làm sao. Một lần nữa thì mẹ tôi tá hỏa khi thấy em trai lớn của tôi cùng con trai chú Nguyễn Huệ hàng xóm đang khiêng thằng em út của tôi hơ lên đống lửa đốt đít để bay lên trời giống hỏa tiễn,…

Sau này, tôi chuyển sang khu tập thể khác khi đã có gia đình, nhưng tôi vẫn nhớ về các em như một phần của cuộc đời mình. Tôi vẫn nhớ như in những lần khu tập thể bị ngập lụt, tổ dân phố phân công từng gia đình nhà trên phải có trách nhiệm cho các gia đình nhà dưới ở nhờ và để đồ đạc. Các em gái thường tụ tập ở nhà tôi để ngủ, tôi vẫn nhớ, mỗi khi dắt màn các em gái lại ước ao giá có các anh ở nơi khác đến rước các em đi để khỏi phải sống ở khu tập thể thường bị ngập lụt như thế. Còn ban ngày, trong khi các em trai vẫn hồn nhiên ngồi dong cần câu xuống tầng một để câu cá, thì các chị gái ngồi ngẫm nghĩ sau này nếu các em trai lấy vợ thì ở đâu? vì nhà nào cũng chỉ có 24 m2, mà nhà nào cũng có ít nhất là 2 con trai. Không hiểu sau này các em có còn nhớ đến tôi nữa không, nhưng một vài lần tôi được hưởng niềm vui vì biết là vẫn còn có em nhớ đến mình.

Đó là lần biết tin tôi sắp bảo vệ luận án ở Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, một em nhà ở tầng ba, đã vác máy đến quay rồi truyền lên buổi tin tức với tựa đề là “Con gái chiến sĩ Điện Biên năm xưa” làm sau này các bạn của tôi ai xem buổi đó cứ trêu tôi suốt. Em là con trai đầu của chú được nhận danh hiệu anh hùng từ mặt trận trở về đó, do chăm học khác biệt so với các em mình nên đỗ vào đại học, rồi khi ra trường em được nhận vào làm ở đài truyền hình. Theo tôi,  trong hoàn cảnh nhà em, học được, ngoan được như một đứa trẻ bình thường cũng không phải là điều dễ dàng. Tôi bảo vệ luận án vào ngày 30/4 – là ngày thống nhất Bắc Nam, khi nhà đài phát lại đúng vào ngày 7/5 là ngày chiến thắng Điện Biên nên mới ra chuyện như vậy. Ba tôi là bộ đội từ hồi chống Pháp, rồi sau đó là chống Mỹ, lúc nào cũng ở chiến trường B và C (Miền Nam, Lào, Cămpuchia), chưa bao giờ đánh ở chiến trường phía Bắc. “Bé cái nhầm” này của em làm tôi bị các bạn trêu cho đến tận bây giờ.

Một lần vui nữa là cậu em trai nhớn nghịch ngợm của tôi lại đủ điểm ra nước ngoài học, em được 25 điểm mà ai cũng hỏi tôi có quen ai ở Bộ Đại học không, có xin xỏ ai không, trong khi bố tôi có một nguyên tắc bất di bất dịch là không bao giờ xin xỏ cho các con điều gì cả, từ công ăn việc làm đến chuyện nhà cửa,… Bố bảo cho các con kiến thức thế là đủ rồi, còn mọi thứ các con phải tự xoay lấy. Tôi thì hoàn toàn không biết phải làm việc đó như thế nào. Nếu ai thấy những lúc em phải quấn quần áo đầy chân để khỏi bị muỗi cắn lúc học ban đêm ở khu tập thể hay bị ngập lụt thì chắc sẽ không bao giờ hỏi những câu như vậy. Lúc học ở nước ngoài, nghe tin chị làm luận án thì cậu em vốn suốt ngày đi du lịch lại dành được 500 đô để gửi cho chị. Đây là niềm vui gần giống như niềm vui của bố mẹ suốt ngay chăm lo con đến ngày chúng đưa cho mình đồng lương đầu tiên. Vui hơn cả khi nghe tin em đỗ đại học đi nước ngoài. Tôi nâng niu số tiền đó và định gửi chúng vào quỹ tiết kiệm để dành làm luận án. Thế nhưng khi nghe tin tôi có tiền định gửi tiết kiệm, một cô bạn cùng học phổ thông hỏi vay để buôn bán quần áo ở vùng biên giới, bạn hứa sẽ trả lãi suất y như của ngân hàng. Bạn lấy chồng từ năm 19 tuổi và đã có 3 con nên cũng vất vả, trong khi hoàn cảnh của tôi cũng vất vả nhưng vẫn chưa vất vả bằng bạn, vì thế tôi quyết định cho bạn vay tiền. Thế mà bạn lại lấy số tiền quý hoá của tôi đi đánh đề, chơi hụi rồi bị vỡ hụi không có tiền trả, trong khi tôi lại đã thi xong các môn để được công nhận là nghiên cứu sinh và phải nộp một khoản tiền theo quy định của trường. Đòi bạn thế nào cũng không được, đến nhà hàng chục lần mà bạn toàn trốn không gặp. Tôi không biết làm sao để lấy lại tiền của mình, tôi kể lể cho các em trong khu tập thể cũ nghe trong một lần về chúc Tết mọi người. Một em trai bảo để em lấy lại tiền giúp chị. Thế là em mang cái bộ mặt có vẻ bụi bụi nhưng thực ra là em rất hiền, chỉ có trông mặt có vẻ dữ dữ thôi để đến hỏi tiền. Chẳng hiểu sao bạn lại đưa tiền ngay trong khi tôi đến hàng chục lần thì bạn không trả – đấy là một cách để các em giúp chị.

Niềm vui nữa là khi nghe tin em gái đi lấy chồng vì em đi nước ngoài lao động vào lúc bố mẹ đều vắng nhà cả, nhà chả có đồng nào dể đưa cho em, tôi phải lấy chiếc nhẫn duy nhất mà mẹ tôi cho lúc đi lấy chồng để đưa cho em để em phòng thân. Em gái đi vào năm 1987 là năm bắt đầu đổi mới kinh tế, Nhà nước bãi bỏ chế độ tem phiếu, thả nổi giá và các loại tỷ giá, hàng hóa lên theo đúng giá trị thật của nó (thí dụ gạo không còn 4 hào 1 kg nữa,…), hàng hóa tăng hàng chục giá mà vẫn chỉ có từng ấy tiền lương, trong khi tôi lúc đó đã có một em bé mới 1 tuổi rưỡi và đang có bầu một bé khác. Mọi người vốn quen dùng tem phiếu nên vẫn chưa quen với việc thả nổi giá, cuộc sống thật là vất vả. Cậu em trai út đi bộ đội, tốt nghiệp trường sĩ quan chỉ huy lúc mới 20 tuổi nên bị lính lớn tuổi hơn ở vùng biên giới thách uống rượu thì mới nghe lời triệt để nên em cũng trót dại uống hàng chục bát rượu với người ta rồi bị chảy máu dạ dầy. Ở nhà em không biết uống rượu, năm lớp 9 mới biết đi xe đạp, lần đầu tiên đi xe đạp ra đường là lần đến nhà thầy cô ngày 20/11. Hôm đó em về nhà muộn quá 9 giờ tối mà cả nhà đổ ra đường ngóng em mãi. Sau này thỉnh thoảng em trở về nhà ở khu tập thể từ cuộc chiến tranh biên giới với những cơn sốt rét và da bị hắc lào. Hồi đó không có sẵn thuốc thang như bây giờ, phải liên hệ hỏi han các bạn làm ở Viện Sốt rét thì mới có thuốc để cho em uống, lùng mãi mới có thuốc ASA để bôi cho em khỏi hắc lào. Bù lại, ở rừng núi về em mang cho tôi một cái thớt bằng gỗ nghiến để tôi làm bếp mà cho đến giờ nhà tôi vẫn dùng. Em cũng đã tốt nghiệp đại học ở đúng khoa mà Như Anh của chúng mình làm chủ nhiệm hồi bấy giờ đó. Tôi vẫn nhớ có lần em hỏi tôi: “Chị ơi, chị Như Anh nghiêm lắm hả chị, ở trường nhiều sinh viên nói là sợ chị Như Anh hỏi thi lắm”.

Từ các em ở khu tập thể cũ, tôi vừa nhận được quyển “Quân khu Nam Đồng” hình như tác giả Bình Ca chấp bút là con trai bác Hữu Mai – nhà văn, người viết các cuốn truyện nổi tiếng một thời như Cao điểm cuối cùng, Đồng đội, Phía trước là mặt trận, Vùng trời, Ông cố vấn, Hà Nội 12 ngày đêm,… Tôi gửi ngay cho cô em gái ở cùng lứa tuổi đó. Gọi điện thoại hỏi em: “Đã nhận được chưa?”. Em cười ríc ríc bảo: “Vừa nhận được, em đang đọc đây này, cười lộn cả ruột, toàn những đứa em biết!’.

Cán bộ, phóng viên báo Quân Tiên Phong trong kháng chiến chống Pháp. Hàng trên, từ trái qua phải: nhà văn Hữu Mai, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, nhà văn Hồ Phương
Cán bộ, phóng viên báo Quân Tiên Phong trong kháng chiến chống Pháp. Hàng trên, từ trái qua phải: nhà văn Hữu Mai, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, nhà văn Hồ Phương – cư dân quân khu Nam Đồng (Nguồn: Bài “Nhớ một người anh” Báo Tiền Phong Online 2/10/2012)

Nhạc sĩ Thuận Yến: Sự hòa hợp chất lính – chất thơ - ảnh 1

Nhạc sĩ Thuận Yến thời trẻ – cư dân quân khu Nam Đồng (Nguồn: Bài “Nhạc sỹ Thuận Yến -sự hòa hợp chất lính chất thơ”, TPO 26/5/2014)

Tôi đã được các em của mình và các em cùng khu tập thể mang lại rât nhều niềm vui nho nhỏ. Tôi vẫn thầm cảm ơn những năm tháng sống ở các Trại Nhi đồng của chúng mình, các cô đã truyền dạy cho tôi cách sống “làm anh chị” phải nhường phần hơn hoặc mang đồ chơi đẹp cho các em và phải nâng các em khi bị ngã dịu dàng như thế nào.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: