Đăng bởi: leminhtam | Tháng Tám 4, 2015

Chuyện các cháu ở Trại Nhi đồng kể (7)

KHI BỐ VẮNG NHÀ

Lê Minh Tâm là trại viên các Trại Nhi đồng Miền Nam, Trại Nhi đồng Miền Bắc, Trại Sơ tán Vĩnh Phú thời kỳ 1955-1966; là chị của Lê Minh Hà, Lê Đức Thọ, Lê Đức Nam – đều là trại viên Trại Sơ tán Vĩnh Phú thời kỳ 1965-1972. Bốn chị em là con cô Trương Thị Minh – phóng viên Báo PNVN và chú Lê Đức Phú – cán bộ quân đội, đại sứ Việt Nam tại Rumani, hiệu trưởng Trường Đại học Pháp lý TP. Hồ Chí Minh.

Chúng tôi lớn lên ở trong một khu tập thể mà hầu hết các ông bố đều vắng nhà, đó là khu tập thể bộ đội. Ở những khu tập thể như vậy thì hầu như vào thời bình hay thời chiến các bố đều vắng nhà, nhưng đặc biệt vào thời chiến thì chả còn nhà nào có bố cả, có những ông bố thì mãi mãi không bao giờ trở về.

Ở mãi cũng quen nên cả lũ trẻ lớn lên mà không biết đó là điều không bình thường. Bố ít nói, có nhiều tình cảm cũng giấu kín nên các con lại càng không biết tình cảm của bố như thế nào. Có bố về thấy con hư hỏng thì cáu loạn cả lên làm hình ảnh về bố bị méo mó thậm tệ. Có hôm vào buổi đêm nghe trộm được bố tâm sự với mẹ: “Sao mấy đứa trẻ nhà mình thấy bố về mà không òa ra reo vui như mấy đứa trẻ con nhà khác nhỉ, hàng năm mới về một lần mà không thấy con reo vui kể cũng buồn”. Nhưng bố đâu có biết việc bố thường xuyên xa nhà như vậy thì việc bố xuất hiện ở nhà giống như việc xuất hiện một người đàn ông lạ làm bọn trẻ thấy mất tự nhiên. Chúng chẳng biết đứng ngồi ra sao, mặc quần áo như thế nào hay phải ăn nói như thế nào cho phải đạo với bố. Thế là cả lũ cứ đi đứng, nói năng khép nép, nhịn nói, nhịn cười, nhịn ba hoa với nhau, nhịn con cà con kê kể chuyện vớ vẩn trông thấy ngoài đường cho mẹ nghe vì thỉnh thoảng bố bảo mẹ là đài BBC, cái gì cũng lôi về kể chỉ để con cười mà không biết là vô chính trị, còn phải nhịn cả nũng nịu mẹ. Nói tóm lại là rất khẽ khàng, yểu điệu nữ nhi nếu là con gái; còn con trai thì thì rõ là kín miệng để khỏi lộ tẩy những lỗi lầm trong lúc bố vắng nhà kẻo lại bị bạt tai hay đá đít. Bố thơm nhẹ vào má cũng ngại, ẩy bố ra ngay, bố tới gần hỏi thăm về trường lớp thì trả lời lấy lệ rồi chạy vụt mất. Nói tóm lại là làm bố đau lòng rất nhiều. Con gái thì làm bố đau lòng bằng những cử chỉ nho nhỏ, còn con trai làm bố đau lòng bằng những chuyện động trời. Tính cách của bọn trẻ khi ra đời cũng có điều lệch lạc.

Hồi ấy nhà ai đẻ ít cũng 3-4 con, còn đẻ nhiều thì cũng một chục. Bố hay vắng nhà nên cứ mỗi lần bố về là mẹ lại có em bé. Mẹ có bụng to cũng lủi thủi một mình tự lo mọi việc, đi bệnh viện cũng một mình, về nhà cũng một mình với một bầy con bé lít nhít. Chính tôi cũng không hiểu có giúp được mẹ việc gì không hay chỉ tổ vướng cẳng mẹ, cũng may là hàng xóm láng giềng gíúp đỡ cũng nhiều. Nhưng khổ nhất đối với mẹ tôi là người ngoài xầm xì: đứa này giống bố quá, đứa kia sao chẳng giống bố tẹo nào. Họ xầm xì đến nỗi mà đứa em gái của tôi cũng bảo với chị: “Hình như mẹ bị nhầm em ở bệnh viện hay sao ấy?”. Tôi thì vô tư lự bảo em gái: “Sao lại nhầm được, ở bệnh viện đeo vòng, đánh dấu chân hẳn hoi rồi mà!”. Chúng tôi không hề biết rằng những câu hỏi như vậy sẽ làm mẹ tôi đau lòng lắm. Tôi không biết các bố đi xa như vậy có để lại tiền lương không, nhưng ở nhà nào tôi cũng thấy những người mẹ phải đánh vật với đồng lương nhỏ bé của mình để nuôi chừng ấy đứa con. Có hôm nhà tôi năm miệng ăn mà chỉ có một quả trứng nên mẹ tôi phải cho cả bột mì, nước sệt sệt chắt từ nồi cơm sôi ra cùng với rau bắp cải để thành một đĩa trứng to cho bốn đứa con cùng gắp mới đủ. Có đêm tôi thấy mẹ khóc nức nở, khóc rất to khi bị mất tờ một đồng. Mẹ chỉ khóc một mình không bù lu bù loa kể lể với các con ban ngày hay nghi cho đứa này đứa nọ lấy nên lại càng thương hơn. Tôi phải gặng hỏi mãi vì sao mẹ khóc thì mẹ mới nói là khóc vì mất tiền.

Thế mà vẫn chưa bằng một cô ở trên gác ba. Cô trông rất xinh và có tới bốn thằng con trai. Nuôi từng nấy đứa con trai thì thật là vất vả. Đêm nào cô cũng phải ra ga để đón những chuyến tàu từ các tỉnh về mua hàng rẻ đem bán lấy tiền thu nhập thêm từ chênh lệch. Thế là có người lại xầm xì: cô đi đâu đó vào buổi đêm để có tiền – cô đã khóc khi kể với tôi như vậy. Thật là khổ hết chỗ nói! Mẹ bị mang tiếng như thế thì làm sao mà dạy được con, nhất là những đứa con trai nghịch ngợm như con của cô, thế nên hết đứa này vào tù rồi lại đứa khác dính vào trộm cắp. Lúc hết chiến tranh, chú trở về với danh hiệu anh hùng quân đội, nhưng khi về thấy những đứa con trai của mình như vậy và người vợ nghe bị xầm xì như vậy thì thử hỏi chú buồn đến mức nào. Chú hay không có nhà nên tôi cũng không quan sát được vẻ mặt chú ra sao.

Mẹ tôi còn may hơn cô rất nhiều. Nhờ gửi con ở Trại Nhi đồng của cô Tụy Phương nên tôi và một em trai đầu của tôi đều chăm học, đủ điểm đi học nước ngoài. Còn em gái tôi, do có thời gian bố mẹ lại gửi các em tôi ở Trại sơ tán T39B của con bộ đội, trại này chủ yếu do các chú thương bình ở chiến trường về chăm sóc nên cách quản lý khác hẳn trại của cô Tụy Phương. Có hôm cùng mẹ lên thăm em, tôi chứng kiến buổi đêm có chú thương bình ôm đòn gánh hô “xung phong!” rồi đâm vào bụi chuối ngoài vườn – đó là do vết thương chiến tranh làm chú mang bệnh như vậy. Có lần em gái tôi suýt bị chết đuối khi các em rủ nhau ra sông bơi qua sông bằng cây chuối mà không hề biết bơi. Một em gái khác tên là Hồng Hà cùng ngồi cây chuối với em gái tôi thì bị chết đuối vì em nhỏ người quá, em gái tôi cao hơn nên tự chống chân xuống một gờ cứng ở đáy sông để thở cho đến khi cậu con trai bác chủ nhà nghe thấy chạy ra cứu em vào bờ. Sau chấn động tinh thần đó, em gái tôi đâm ra chểnh mảng học hành, ít đọc sách, chỉ thích ca hát và ăn mặc đẹp vì em cũng xinh gái, làm những việc không phải suy nghĩ nhiều. Em cũng đi dự thi tuyển vào đoàn văn công do cô Tường Vi tuyển chọn nhưng máy bay lại đến ném bom đúng vào lúc đến lượt em thử giọng, thế là em đi về nhà luôn sau đợt xuống hầm tránh bom nên sau này em làm công nhân ở một nhà máy của quân đội. Ở đây em rất tích cực tham gia vào đội văn nghệ của nhà máy nên có lần cả nhà được nghe em hát qua radio Đài Tiếng nói Việt Nam. Mẹ còn sinh ra thêm một em trai nữa đúng vào lúc đất nước vừa có chiến tranh, đó là vào năm 1965. Ngày em sinh ra cũng là ngày bố chia tay cả nhà để vào Nam chiến đấu nên khi mẹ hỏi: “Đặt tên em là gì?”, tôi nhanh nhảu nói đặt tên là Nam, vì Nam cũng là một phần tên đất nước, tên quê tôi, tên khu tập thể mà nhà tôi đang ở. Thế là mẹ tôi đồng ý ngay. Lúc đó em còn khóc oe oe nên không Trại nhi đồng nào đủ sức nhận nuôi, mẹ tôi phải gửi em cho một bà giúp việc, hai bà cháu đi sơ tán gần Trại cô Tụy Phương ở Lập Thạch nên thỉnh thoảng chị em tôi lại chạy sang thăm em. Khi đủ tuổi em cũng được các cô nhận vào Trại sơ tán. Cũng như tôi, em lớn lên trong chiến tranh nhưng là cuộc chiến tranh chống Mỹ còn bố mẹ sinh ra tôi trong chiến tranh chống Pháp. Vậy mà đúng vào năm em thi vào Đại học thì một cuộc chiến tranh nữa xảy ra ở biên giới. Em đủ tuổi tòng quân ngay khi chưa kịp biết điểm thi. Thật may là các  em trai tôi chưa ai bị vào tù ra tội nhưng mẹ tôi phải vất vả đội bom đạn, mưa nắng để đi thăm chúng tôi ở khắp mọi nơi: các loại trại sơ tán lúc còn bé, các trường sơ tán lúc đã lớn hơn, các đơn vị công tác khi đã trưởng thành. Ở Trại sơ tán của cô Tụy Phương thấy mọi thứ bình thường, nhưng khi được nghỉ hè cùng các em ở Trại sơ tán con bộ đội tôi mới thấy rõ sự khác biệt. Ở đây hàng ngày các em cũng đi học ở trường cùng các bạn địa phương, lúc về các em thay phiên nhau đi chăn trâu của Trại hoặc dẫn một lũ chó Trại nuôi ra cánh đồng chơi. Các em rất yêu các chú chó, suốt ngày quấn quít chơi đùa với chúng. Vậy mà một lần nước lụt, chợ búa không có gì để mua, các chú đem lũ chó ra thịt để lấy thức ăn cho các cháu xơi. Các cháu tìm cách giấu chó trong các lồng bàn, chúng hình như cũng hiểu nên nằm in thin thít nhưng các chú vẫn tìm ra để thịt. Lúc bị trói chuẩn bị đổ nước sôi nước mắt chúng vòng quanh, các em trong Trại sơ tán òa khóc thảm thiết. Bữa cơm hôm đó không cháu nào động vào thịt chó, chỉ các chú ăn thôi. Hôm sau, các em nhặt xương chó làm đám ma cho chúng. Các em gái kết vòng hoa, các em trai đào hố chôn, các em nối đuôi nhau đi vòng vèo ra tận cánh đồng đến nơi chôn lũ chó, đặt vòng hoa lên các nấm mồ rồi mãi mới về.

Bố tôi từ mặt trận trở về với một ba lô lép kẹp trên vai, một chiếc mũ sắt nặng chịch, một túm khăn dù màu xanh, những chiếc lược nhôm làm từ xác máy bay rơi,… với những vết thương nhức nhối và bộ mặt cáu kỉnh mỗi khi trở trời, với một nếp sống rất chi là quân đội. Bố làm gì cũng đúng giờ giấc từ ăn đến ngủ, từ việc để dép guốc, đồ đạc cũng phải đúng i một chỗ không được sai, trong khi chúng tôi đâu có trật tự nào. Lúc nào đói là xơi cơm cháy nguội với dưa bất kể lúc nào, còn đồ đạc thì để ở đâu mà chả được – mẹ chúng tôi đâu có thắc mắc, ca thán bao giờ vì tội đó quá nhỏ so với những cái đáng mắng khác. Bố về làm xáo trộn cuộc sống bình thường của chúng tôi, còn ông thì cho rằng chúng tôi làm xáo trộn đồ đạc và nề nếp quân đội của bố. Đôi dép bố vừa để ở cửa thì đã có đứa nào xỏ đi mất, giờ ăn thì lúc sớm lúc muộn,… bực quá thể. Bố tôi về còn làm cho mẹ tôi rất buồn, tuy không nói gì cả nhưng ông tỏ ra yêu tôi và cậu em trai nhớn ra mặt vì cho là giống ông đều đen thui và nhỏ người; tỏ ra không vồn vã với em gái và em trai út vì cho là không giống ông, hai đứa có vẻ trắng hơn mặc dù cả hai đứa đều rất đẹp trai đẹp gái và cao lớn. Được như vậy là mẹ tôi đã vất vả lắm rồi, họ hàng bên mẹ và bố đều đẹp, trắng và cao lớn, chỉ mỗi bố mẹ tôi nhỏ bé và ngăm ngăm đen thôi. Đó là vào những năm tháng chiến tranh ác liệt nhất.

Đi học nước ngoài về vào đúng năm kết thúc chiến tranh, lúc này tôi mới thấm thía hết những nỗi khổ của con nhà lính. Hết máy bay bắn phá rồi mà vẫn chưa nhà nào có bố về. Các mẹ vẫn quần quật nấu ăn, xách nước, xếp hàng mua bán, quét lá làm củi đun, nuôi gà lợn, đan len lấy tiền thêm để nuôi con,… trong khung cảnh nhà tập thể chật chội, cũ nát và lụt lội. Căn phòng và khu tập thể lại càng trở nên nhỏ bé, lem nhem, lộn xộn hơn khi tôi đi học nước ngoài về. Tôi nhận thấy các em bé hầu như không có ngày Chủ nhật bởi không có ai đưa các em đi chơi đâu cả, toàn lủi thủi nghịch đất cát ở trong sân. Cũng vào lúc này thì bố tôi lại nhận nhiệm vụ mới là đi sứ xa, còn mẹ tôi cũng nhận nhiệm vụ mới là trưởng đại diện Báo Phụ nữ Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh. Thế là mới 23 tuổi, vừa ở nước ngoài về, tôi được mẹ bàn giao ngay 3 đứa em: một đứa đang học lớp 10, một đứa đang học lớp 7, một đứa đang học lớp 4 – toàn ở giai đoạn chuyển cấp với một đống tem phiếu trên tay. Tôi phải phân công ngay: một đứa phụ trách xếp hàng mua gạo, một đứa luôn xếp hàng mua rau, một đứa chuyên xếp hàng mua dầu hỏa, còn tôi hàng ngày phải xếp hàng mua thực phẩm (thịt, cá, đậu, nước mắm,…). Có hôm phải xếp hàng từ ban đêm, có hôm phải giữ chỗ từ sáng sớm, có lúc phải mua ở cơ quan rồi chế biến mang về nhà cho ba em ăn như một bà mẹ trẻ. Nhưng như vậy là nhà tôi vẫn còn may hơn rất nhiều nhà khác. Có em trong khu tập thể xé hàng rào trường Đại học Ngân hàng gần kề nhà để vào thư viện trường lấy trộm sách về làm củi đun hoặc bán đồng nát lấy tiền, có em ăn trộm chó Nhật của hàng xóm để bán,…. bị công an bắt phải ngồi đồn hàng đêm muỗi cắn, bụng đói rất thương. Thế mà các em vẫn gan lì không chịu nhận với các anh công an, thà chịu ngồi muỗi cắn, bụng đói trong đồn còn hơn. Nhất định không chịu viết bản kiểm điểm với công an. Chính vì vậy tôi đã nhận lời đề nghị làm chị phụ trách các em trong khu tập thể. Với tư cách là chị phụ trách, tôi có thể bảo lãnh cho các em về nhà với điều kiện là các em chịu viết kiểm điểm nhận khuyết điểm với công an và hứa không bao giờ tái phạm nữa.

Một lần như vậy mà tôi nhớ nhất, một em trai nghịch vào loại nhất khu tập thể ăn trộm một con chó Nhật của hàng xóm, em là con chú anh hùng quân đội nọ. Hồi đó chó Nhật được coi là một tài sản lớn của mỗi gia đình vì nó đáng giá hàng triệu đồng, có nhà còn có thể xây được nhà mới nhờ nuôi chó Nhật. Nhà nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn trong khu tập thể cũng nuôi rất nhiều chó Nhật. Bác hàng xóm kể lể: “Hàng ngày nó vẫn đùa nghịch với con chó của bác, nó cứ huýt sáo là con chó lũn cũn đi theo nó ngay, bác cứ nghĩ là nó yêu chó nên cũng cho là bình thường, thế mà… thế có tệ không cơ chứ, chỉ có nó thôi, không còn ai khác”. Thế nhưng ở đồn công an, em trai đó vẫn một mực không chịu nhận, hai ngày ngồi đồn rồi mà vẫn không chịu nhận. Công an phường báo cho chị phụ trách biết, tôi ra đồn thấy em ngồi bệt dưới đất mặt mũi lì lợm. Thấy tôi, em có vẻ vui. Tôi hỏi em: “Suốt từ sáng đễn giờ đã ăn gì chưa?”, em lắc đầu. Tôi lại hỏi: “Đêm qua muỗi đốt nhiều không?”, em gật đầu. Tôi rủ em đi ăn phở, em gật đầu, thế là tôi xin anh công an phường cho em đi ăn phở. Ăn phở xong, em nói: “Chị đi cùng em đến chỗ này”. Tôi đi cùng em nhưng vẫn chưa biết là em dẫn đi đâu. Hóa ra là em dẫn tôi đến nhà một người bạn mà em gửi con chó ở đấy, huýt sáo gọi chó, em ôm nó vuốt ve âu yếm rồi đưa chó cho chị, em xin phép tự đi bộ về đồn viết kiểm điểm để cho tôi còn đến cơ quan chia cá mú buổi tối. Hồi đó thực phẩm vô cùng khó khăn nên các cơ quan TƯ thỉnh thoảng được mổ lợn, chia cá do địa phương cấp thêm cho. Tôi cho con chó vào chiếc làn đi đến cơ quan, con chó cứ nghển nghển cổ ra nhìn mọi người trông rất đáng yêu làm ai cũng thích. Chỉ có điều chẳng ai hiểu vì sao tôi mang chó đến cơ quan làm gì vào lúc tối giời như thế. Lúc chia cá xong, về đồn công an phường thì em trai đó đã viết xong bản kiểm điểm nhận việc trộm chó của mình là sai, xin hứa không bao giờ tái phạm nữa. Tôi dẫn em về nhà trả lại cho mẹ của em, trả lại con chó Nhật cho bà hàng xóm. (Còn nữa)


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: