Đăng bởi: leminhtam | Tháng Bảy 19, 2015

Chuyện các cháu ở Trại Nhi đồng kể (5)

KỶ NIỆM TRẠI VIÊN

Ba anh em Hồ Bá Đạt, Hồ Bá Lộc, Hồ Tú Chi là con cô Nguyễn thị Yến, thứ trưởng Bộ Công nghiệp Thực phẩm, Ủy viên dự khuyết TƯ thời bấy giờ. Hồi đó cả ba và má các bạn đều là đại biểu quốc hội chung một khóa. Ba là Hồ Bá Phúc – cán bộ quân đội. Cả ba anh em đều ở trại cô Tụy Phương. Hồ Bá Đạt là trại viên Trại Nhi đồng Miền Bắc tốt nghiệp 1962 viết về một số kỷ niệm bạn bè cùng lứa thời ở Trại và lần nằm bệnh xá không được gặp Bác Hồ của mình.

 Bạn bè cùng lứa

Năm đó tôi học lớp B. Lớp tôi khi đó nằm ở dãy nhà ngang, mái lợp lá cọ. Buồng ngủ của lớp có nhiều dãy giường, nhưng các cô không xếp cho con trai, con gái ngủ riêng. Phía sau buồng ngủ nhìn sang khu vườn ươm. Gió Hồ Tây quanh năm lồng lộng thổi vào

Cùng học với tôi có các bạn Lê Hoà Bình (con dì Hường), Lý Tân Huệ (con bác Lý Ban), Chí Hoà (con cô Trinh – Phó Chủ tịch Hội LHPN), Hữu Nghị (con bác Trần Tử Bình), Nguyễn Việt Triều “trai” (con cô Hà Thị Quế), Nguyễn Việt Triều “gái” (con cô Tuỵ Phương), Nguyễn Thị Hoà (con dì Bảy Huệ), Phương Nga (con dì Nghệ Hà), Lê Toàn Thịnh (con bác Lê Toàn Thư), Đắc Hoà (con cô Châu),… Riêng Lê Hoà Bình và Chí Hoà là hai bạn cùng ở chung khu tập thể Hội LHPNVN ở 39 Hàng Chuối. Nhiều bạn sau này còn học chung với tôi khi về Trường Thiếu sinh quân Nguyễn Văn Trỗi.

Trong lớp ấn tượng nhất với tôi là Nguyễn Thị Hoà. Là con gái nhưng Hòa nghịch còn hơn cả con trai chúng tôi. Không biết Hoà học bơi từ khi nào, vậy mà lần các cô cho sang vườn nông lâm tham quan, Hòa leo trèo rồi bị té xuống bể nước. Rồi Hoà cứ tự mình bì bõm bơi, bám được vào thành bể. Khi được các cô kéo lên thì ướt mèm, phải mặc áo khoác của cô giáo. Lúc đó Hoà đã cao hơn tụi tôi một cái đầu nhưng mặc áo của cô dài quá gối, rộng thùng thình, trông thật mắc cười. Lần cả Trại đi nghỉ mát ở Tam Đảo, khi cả lũ nhảy xuống hồ bơi thì Hoà đã dìm tôi sặc nước, suýt chết đuối. Chắc để “trả thù” lần rơi xuống bề nước vườn ươm bị tôi và các bạn tùng ê!?.

Lý Tân Huệ có mẹ là bác Ôn Bích Trân. Mỗi chủ nhật trở vào Trại, Huệ thường mang theo truyện tranh “Thuỷ hử”, “Tam quốc Diễn nghĩa” nhưng phải ai thân lắm mới cho coi. Cứ buổi trưa nhắm mắt chờ đến khi cô đi khỏi là dấm dúi nhau đọc. Hồi đó Trại có phong trào vẽ các nhân vật là tướng lĩnh thời Thuỷ hử, Tam quốc. Ngày ấy, chúng tôi gọi là “vẽ người xưa”. Cả bọn ngồi lê la trên đoạn đường dốc tráng xi măng chỗ 2 quả cầu để vẽ. Cứ chỗ nào trống là thành bảng. Vẽ hết phấn thì kiếm gạch non. Các “tác phẩm” bày la liệt trên mặt đất. Nào là Quan Vân Trường, Lưu Bị, Trương Phi, Tào Tháo rồi Võ Tòng,… đầu đội mũ chiến, mình khoác áo giáp trận, lưng thắt đai có giắt kiếm, tay xách trùy, cưỡi ngựa xích thố lao ra trận mạc. Tay áo, đít quần đứa nào cũng lấm lem mà các cô không la mắng vì phải vất vả giặt giũ cho chúng tôi.

Lớp tôi có Nguyễn Việt Triều – con cô Tuỵ Phương. Để phân biệt với Nguyễn Việt Triều “trai”, chúng tôi gọi bạn là Triều “gái”. Là con Hiệu trưởng nhưng Triều không được hưởng một chút ưu ái nào. Cô Thuỵ Phương luôn nhắc các cô giáo cứ nghiêm khắc dạy dỗ, tránh để các bạn khác suy bì. Thậm chí ngày thứ bảy, khi các bạn đã về hết, ngoài đường đã lên đèn thì Triều mới được mẹ đèo xe đạp về nhà.

Cùng vui chơi, nghịch ngợm

Phải nói ngày ấy bọn trẻ thật dồi dào trí tưởng tượng. Giữa lớp B và lớp C có một hành lang mà bên hông được che bằng tấm phên đan bằng nứa. Chúng tôi đã bẻ nứa làm cung, tên; lấy dây chuối buộc làm dây cung rồi nhắm bắn vào thân cây chuối sau lớp. Phía sát hàng rào Trại có dãy ống xi măng được tận dụng làm giao thông hào. Chúng tôi lấy lá chuối trải xuống dưới. Tối tối kéo nhau chui xuống “căn cứ địa”, nằm nghêu ngao hát hay kể ra những trận đánh tưởng tượng. Tha hồ bay bổng.

Lên lớp A, bắt đầu học chữ, tôi nhớ mãi không hiểu sao viết chữ “h” khó quá. Mà cô giao ước phải viết xong mới được đi ăn cơm. Và tôi là người trong tốp cuối đi ăn trưa.

Phải nói hoạt động văn nghệ của Trại ta khá sôi nổi với nhiều tiết mục đặc sắc. Ai cùng  lớp hẳn còn nhớ chúng ta từng đóng hoạt cảnh thuỷ thủ? Các thuỷ thủ  khoác trên người bộ quần xanh, áo trắng với yếm sóng hải quân, tay xách chậu, tay cầm chổi, rẻ lau vừa giội nước lau sàn tầu vừa hát: “…Vượt ngàn trùng sóng nhấp nhô, đoàn ta lái tàu ra biển khơi. Chúng ta là chiến sĩ hải quân…”. Hay trên nền thơ do một bạn đọc “Bà O kể tuổi đã già/ Nhưng bà cuốc đất tăng gia hàng ngày…”, một bạn gái đóng vai bà O đầu quấn khăn rằn, miệng bỏm bẻm nhai trầu, cần mẫn cuốc đất tăng gia. Quanh vườn, các cháu đang tưới rau, bắt sâu. Thật là vui!  Ngoài bà O, chúng ta còn có bà Ba chuyên trồng dâu nuôi tằm, lấy nhộng bổ sung dinh dưỡng vào các bữa ăn cho trại viên

Kỷ niệm nằm bệnh xá

Sáng đó, vừa thức dậy tôi cảm thấy đau ở cổ. Nuốt nước bọt thấy tưng tức, sờ xuống mang tai thấy tấy đỏ. Ra mách cô Cam, khi cô đưa tay ấn nhẹ vào mang tai thì tôi hét lên một tiếng “Đau quá!“. “Chắc cháu bị quai bị rồi!”, nói rồi cô thu xếp quần áo dẫn tôi lên bệnh xá. Ở khu cách li của bệnh xá có đến chục bạn. Nghe các cô nói Trại đang có dịch quai bị, bệnh từ cháu nọ lây sang cháu kia qua đường hô hấp khi nói chuyện với nhau nước bọt văng sang. Bắt đầu những ngày cách li…

Các bạn bị quai bị trước tôi đã gần đủ ngày (đâu như 2 tuần) nên nghỉ ở phòng riêng. Chế độ ăn uống kiêng khem cả với những bệnh nhân trong Trại. Tôi gần như là người bị cuối cùng nên nằm một mình trong phòng cách li bệnh nhân mới nhập. Tôi được các cô phát cho bộ pijama, một khẩu trang và xếp một chiếc giường cạnh cửa sổ nhìn ra phía đường Thuỵ Khuê. Bát thìa, cốc uống nước riêng hết để phòng lây lan.

Mấy ngày đầu rất mệt, tôi nằm li bì, chỉ dậy lúc uống thuốc và đến bữa ăn. Được hơn tuần lễ, đã đỡ mệt nhưng không được tiếp xúc với ai, suốt ngày nằm trong phòng cấm làm tôi ngứa ngáy chân tay. Chỉ muốn trốn ra ngoài. Biết vậy nên các cô y tá luôn qua lại thăm, dặn phải hạn chế vận động tránh để lại di chứng sau này (cô nói phải giữ kẻo bị teo tinh hoàn!) và tránh lây cho các bạn khác. Biết tôi nằm cách li buồn, các cô mang truyện tranh vào cho đọc. Nhưng đọc sách mãi cũng chán, tôi lần ra hiên ngắm rặng nhãn của bà O trồng giữa hàng rào Trại với bệnh xá. Mấy chú chim sâu rích rích giữa những cành nhãn tìm sâu trở thành bạn. Chắc chúng buồn cười lắm khi thấy có anh bạn nhỏ miệng che kín khẩu trang, chỉ hở đôi mắt đang ngắm nhìn chúng? Những ngày ở bệnh xá, trưa ngủ dậy khi thì ăn na, khi thì có chuối của bà O gửi vào bồi dưỡng. Có bữa cơm thấy có cả món nhộng rang mặn, hỏi ra thì được biết do bà Ba nuôi tằm dâu lấy tơ, bà dành nhộng cho các cháu ốm nằm bệnh xá.

Lần tôi nằm cách li đúng là lần Bác đến thăm Trại cuối năm 1962. Chưa khỏi hẳn nên tôi không được ra đón Bác. Tôi tiếc mãi nhưng cũng được các cô cho đứng sau cửa sổ nhìn ra sân xem các bạn vui với Bác. Khi Bác về rồi, các cô còn mang phần quà – 3 chiếc kẹo của Bác – dành cho tôi.

Đúng là một kỷ niệm khó quên!

Báo tin: Rất buồn vì cô Cát cũng vừa mất đúng ngày 19/7 (tức 4/6 Ất Mùi). Cô rất hay nhắc tới Đạt vì Đạt cũng hay gọi điện cho cô, khi ra Hà Nội cũng siêng tới thăm cô. Lễ viếng cô vào ngày 23/7 tại bệnh viện Bạch Mai.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: