Đăng bởi: leminhtam | Tháng Sáu 16, 2015

Chuyện các cháu ở Trại Nhi đồng kể (3)

CÔ TỤY PHƯƠNG VỚI GIA ĐÌNH TÔI

Gia đình Trần Kiến Quốc có 8 anh em, trong khi cả bố và mẹ đều tham gia hoạt động cách mạng. Mẹ làm Hội trưởng Hội LHPN tỉnh, bố là đại sứ luôn phải xa nhà. Trại Nhi đồng của cô Tụy Phương đã giúp đỡ bố mẹ Quốc rất nhiều trong việc nuôi dạy cả một thế hệ tương lai to lớn của gia đình. Kiến Quốc thuộc thế hệ Trại Nhi đồng Miền Bắc của cô Tụy Phương. Cô Tụy Phương mất ngày 28/5/2007 (tức 12/4 Đinh Hợi)  

Đi Trại

Với gia đình tôi, có lẽ, có quan hệ khá đặc biệt với gia đình cô Tuỵ Phương và chú Xuân Ngọc. Cha mẹ tôi sinh “hơi bị” ít con, có mỗi 8 đứa – 6 trai 2 gái. Đặc biệt hơn từ tôi (sinh 1952), Thành Công (1954), Hữu Nghị (1955), Hạnh Phúc (1956) – gần như sinh “năm một”(!). Ông bà nội thấy con cháu lít nhít về thăm thì cứ nói: “Con cháu cứ như ngan như ngỗng!”. Đông thì vui đấy nhưng nuôi dưỡng, dạy dỗ ra sao? Khó lắm! Ngày nay, mỗi nhà chỉ có 2-3 con, chứ lúc bấy giờ nhà tôi có tới 8 “chiến sĩ” thì mới biết mẹ vất vả thế nào, trong khi vẫn phải đi làm việc do tổ chức phân công.

Vốn là Chủ tịch Phụ nữ đều tiên ở tỉnh Hưng Yên ngay sau ngày tham gia lãnh đạo cướp chính quyền, rồi là cán bộ phụ nữ ở Bắc Giang, Phú Thọ, Thái Nguyên,… suốt từ năm 1945 đến 1950; nên khi biết Hội LHPN Trung ương có tổ chức Trại Nhi đồng cho các cháu con em trong ngành thì mẹ đã bàn với cha tôi cho các con đi học nội trú để cô Tuỵ Phương chăm sóc, dạy dỗ.

4 trại viên họ Trần-Phạm tại Hoàng Diệu – Điện Biên Phủ, năm 1959. Trái qua, hàng sau:Trần Thắng Lợi, Trần Thành Công. Hàng trước: Trần Hạnh Phúc, Trần Kiến Quốc, Trần Hưũ Nghị. (Ảnh Kiến Quốc gửi từ album gia đình)

Cuối hè 1958, tôi là trại viên đầu tiên trong gia đình, vào học lớp B, đến hè 1960 thì tốt nghiệp lớp A (vỡ lòng). Cùng lứa tôi là các bạn Nguyễn Quang Bắc (Tây Bắc, con chú Lê Quang Đạo và cô Nguyệt Tú), Bùi Chương (con bác Trần Qúy Hai và cô Huệ), Bùi Công Chính (con bác Bùi Công Trừng), Nguyễn Tiến Bắc (con cô Hà Thị Quế và chú Tỉnh)… Sau tôi lần lượt các em Thành Công tốt nghiệp năm 1961, Hữu Nghị – 1962 (cùng Lý Tân Huệ, Nguyễn Việt Triều, Lê Hoà Bình, Hồ Bá Đạt, Nguyễn Chí Hòa, Nguyễn Văn Hoà, Nguyễn Đắc Hòa, Bùi Hoàn Chinh, Nguyễn Thị Hoà, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Việt Triều…) và Hạnh Phúc – 1964 (cùng Hồ Bá Lộc, Nguyễn Quang Tuệ, Vũ Hoàng Đan…). Chính như thế mà cha mẹ tôi vô cùng biết ơn các cô giáo ở Trại Nhi đồng, đặc biệt là cô Tuỵ Phương, đã nuôi dạy 4 trong số 8 đứa con của gia đình ngày từ những ngày đầu chập chững biết đi.

Sau này khi đã “xuất chuồng”, tôi hay rủ mấy anh em từng là trại viên (Toàn Thắng, Quang Bắc…) đạp xe xuống đón các em mỗi chiều thứ bảy. Đây cũng là dịp để thăm lại trường cũ và các cô giáo. Có lẽ vì thế mà các cô vẫn nhớ chúng tôi.

Những năm sau này, khi nhà tôi chuyển về khu 38 Trần Phú, ở cạnh nhà chú Vũ Hải, cô Phin có trại viên Toàn Thắng. Cô Phin công tác ở Hội và chơi thân với cô Tuỵ Phương, nên Xuân Nguyên con cô hay qua lại khu 38 chơi với Toàn Thắng. Vì thế chúng tôi còn có liên lạc với nhà cô qua Xuân Nguyên. Rồi chiến tranh xảy ra, lớn lên mỗi đứa đi học mỗi nơi nhưng khi gặp nhau, có kể chuyện ngày đi Trại là lại nhắc đến cô Tuỵ Phương.

Hơn 20 năm sau

Khi đã trưởng thành, đi bộ đội, đi học, rồi ta công tác; trong một lần về phép, mẹ tôi kể lại: “Lần vừa rồi Hội LHPN gặp mặt các cán bộ phụ nữ lão thành, mẹ có gặp cô Tuỵ Phương. Cô hỏi thăm mấy anh em con và hỏi “Kiến Quốc giờ làm việc ở đâu?”, cô còn nhắc ngày ấy con ngoan và học giỏi lắm”. Lúc đó là giữa những năm 1980. Vậy là xa Trại đã hơn hai chục năm mà cô vẫn nhớ trò. Thật cảm động!

Đầu những năm 1990 khi đất nước “vừa trong gian khó chui ra”, thoát khỏi cơ chế bao cấp, tôi xin chuyển ngành rồi sang Ba-lan tìm “đường cứu nhà”. Xa nhà, tôi hay qua lại thăm gia đình Ngô Hà Bắc, Việt Triều (con cô). Hai vợ chồng rất quý ông anh, học trò cũ của mẹ, rồi lây sang cả 2 đứa con. Các cháu cũng rất quý bác Quốc. Nay chúng nó chắc đã lớn cả rồi…

Năm 1993, tháng 8, mẹ tôi mất. Vừa phát tang buổi trưa thì tối hôm đó chú Ngọc đạp xe đến viếng. Sau khi ra thắp hương cho mẹ tôi, chú ra chia buồn rồi lưu bút vào sổ tang: “Tuỵ Phương ốm, nằm liệt giường nên không đến chia tay chị được. Chỉ mình tôi sang. Xin thắp nén tâm nhang cầu chúc chị an giấc ngàn thu. Thôi, chị an tâm về với anh Bình vì các cháu đều đã lớn và trưởng thành. Vĩnh biệt chị!”.

Năm 1995, biết tin cô vào Sài Gòn chơi với gia đình anh Niệm, chúng tôi lại thăm. Sáng nào, chú cũng đẩy xe lăn đưa cô ra công viên Lê Văn Tám tập thể dục. Đúng dịp cưới, chúng tôi mời cô chú đến dự. Vì mệt không đến dự được nhưng cô cũng không quên gửi quà là một cuốn sổ nhỏ ghi công việc. Tôi vẫn lưu giữ cẩn thận món quà cưới đặc biệt này.

Năm 1996 vào dịp sinh nhật thứ 75 của cô, lũ trại viên chúng tôi kéo lên nhà chị Xuân Như, ở đường Hai Bà Trưng, mừng thọ. Cô vui vầy bên học trò cũ là con của bạn, của đồng nghiệp. Chúng tôi gặp lại anh Lê Võ Tiên Hưng cùng các bạn Hà Chí Quang, Vũ Toàn Thắng, anh em họ Hồ Bá (Đạt, Lộc, Chi), 2 chị em Hoà-Bình (con cô Bảy Huệ), nhà cô Đinh Thị Cẩn (Vinh Quang, Văn Hòa), nhà chú Lê Toàn Thư (Tất Thắng, Toàn Thịnh), anh em Lê Hoà Bình, Đắc Hòa… Cô điểm mặt và đọc vanh vác tên từng đứa cùng tên cha mẹ. Thật là kì lạ với trí nhớ tuyệt vời của cô! Cả bọn nhao nhao kể lại chuyện ngày ở Trại, còn cô thì tràn trề hạnh phúc bên lũ nhóc trại viên ngày nào mà giờ trên đầu có đứa đã điểm bạc.

Sau đó, cô ra Bắc nhưng Tết nào cũng gửi thiếp vào chúc mừng chúng tôi. Bị liệt, cô chuyển sang tay trái tập viết. Tôi vẫn còn giữ những tấm thiếp với nét chữ run run của cô. Ngày Vân Anh sinh cháu Anh Thy, bà cũng gửi thiếp vào chúc mừng. Có lẽ tôi là một trong những học trò được cô dành cho sự ưu ái đặc biệt. Chúng tôi giữ mãi tình cảm này.

Năm 1998, thật không may khi đang dò dẫm trong nhà tập đi, cô dẫm phải đuôi con mèo. Lập tức cô bị ngã rồi biến chứng lần 2. Lần này, cô mất giọng hoàn toàn, tuy vẫn nhận biết người thân nhưng không thể trao đổi được suy nghĩ của mình. Chú Ngọc cứ lặng lẽ chăm sóc cô và giao dịch với đám học trò. Mỗi lần ra Hà Nội, tôi cố sắp xếp đến thăm cô.

Rồi giữa 2 đại gia đình lại có thêm nhiều chuyện vui. Anh Niệm và anh Chiến (anh cả tôi) đều là dân học sinh Trường Thiếu nhi Việt Nam Lư Sơn, Quế Lâm thuở 1953-1957. Cánh Lư Sơn, Quế Lâm thân thiết với nhau như anh em ruột. Rồi con cái họ lại chơi với nhau và cuối cùng, cháu Dương (con anh Niệm) falling in love rồi cưới cháu Minh Trang (con anh Chiến). Hai gia đình đã thân thiết lại càng gần gũi nhau hơn. Chỉ tiếc là ngày 2 cháu cưới, bà đã quá yếu nên không vào dự được.

Ngày cô ra đi

Một ngày đầu tháng 6 vừa rồi, bà đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 87. Vậy là cô giáo Tuỵ Phương, mẹ của các trại viên Trại Nhi đồng miền Bắc, đã mãi mãi đi xa.

Thật tiếc tôi đang công tác xa nên không ra viếng cô được. Nhưng nghe Minh Tâm, Toàn Thắng kể lại: Trong đám khách đến viếng cô ở Nhà tang lễ Quốc gia thấy có nhiều đoàn là các thế hệ học sinh của Trại từ thời Khe Khao, Thụy Khê đến Lập Thạch. Cô có thể tự hào ra đi vì 550 học trò của cô đều đã trưởng thành và là những người có ích cho xã hội, không có đứa nào tham ô, tham nhũng, ăn cắp, nghiện hút, hại dân…

Xin cầu chúc cho cô, cho mẹ an giấc ngàn thu!


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: