Đăng bởi: leminhtam | Tháng Bảy 14, 2014

Kỷ niệm 28 năm ngày mất cố Tổng bí thư Lê Duẩn (10.7.1986 – 10.7.2014)

Đăng Bởi – 17:10 08-07-2014
Bác Hồ và cố Tổng bí thư Lê Duẩn

Bác Hồ và cố Tổng bí thư Lê Duẩn

TS. Lê Kiên Thành, con trai cố Tổng bí thư Lê Duẩn từng chia sẻ về cha mình: “Nhiều người nói, cha tôi là người chống Trung Quốc. Nhưng cha tôi từng nói, bản thân giới lãnh đạo Trung Quốc với người Trung Quốc, với đất nước, với dân tộc Trung Quốc là hai khái niệm khác hẳn nhau”. Một Thế Giới xin trích đăng suy nghĩ của ông:
>> Cố Tổng bí thư Lê Duẩn: “Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc“
>> “Dân còn biết phẫn nộ, là phúc của dân tộc vẫn còn”

Ngày bé, họa báo Trung Quốc tràn lan ở VN, in hình các lãnh đạo Trung Quốc, màu và giấy rất đẹp. Tôi thường lấy để bọc vở. Có lần cha tôi nhìn thấy những cuốn vở đó, hôm sau ông đã yêu cầu thư ký bóc hết  những bìa có ảnh lãnh tụ Trung Quốc để bọc những tờ báo khác vào.
Ông không muốn người ngoài hiểu rằng con trai mình có gì không tôn trọng với Trung Quốc. Nghĩa là cha tôi lúc nào cũng nghĩ rất sâu xa, cẩn trọng, dù trong thâm tâm, ông luôn cảnh giác với người Trung Quốc.

Thực tế là năm 1979, khi Đặng Tiểu Bình đánh Việt Nam, cha tôi rất buồn. Ở thời điểm đó, ngoài việc tuyên bố dạy cho Việt Nam một bài học, Đặng Tiểu Bình muốn chứng tỏ với nước Mỹ, Trung Quốc bây giờ không còn là một Trung Quốc đứng cạnh Việt Nam nữa.

Cha tôi và Đặng Tiểu Bình từng rất thân thiết với nhau. Năm 1961, ở hội nghị các Đảng Cộng sản, cha tôi và Đặng Tiểu Bình đã từng thức thâu đêm với nhau để chia sẻ quan điểm. Sự thân tình đó kéo dài mãi giữa hai người, kể cả khi Đặng Tiểu Bình bị yếu thế trong giới lãnh đạo Trung Quốc, mỗi lần sang Trung Quốc, cha tôi vẫn tìm gặp. Vì vậy cuộc chiến năm 1979, với cha tôi còn là sự phản bội về quan hệ cá nhân.
“Trong sâu thẳm, tôi tự hào về điều đó: Cha tôi, TBT Lê Duẩn là người quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất ở đây. Trái tim ông đã xui khiến ông hành động như thế. Và nếu còn sống đến hôm nay và đối mặt với vấn đề biển Đông, ông cũng sẽ chỉ có duy nhất một lựa chọn đó!”.

Tuy nhiên, khi Trung Quốc đã đánh ta, có lần xem những bài viết kích động phê phán những lãnh tụ Trung Quốc, cha tôi đã đề nghị: “Đừng viết về cá nhân như thế này. Chúng ta phê phán tư tưởng, hành động của họ, chứ không phê phán cá nhân”.

Nhiều người nói, nếu không vì cha tôi, sẽ không có cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Nhưng thực tế, đến thời điểm này, khi chúng ta đã hết sức mềm mỏng, khi chúng ta đã lùi đến hết mức chúng ta có thể lùi, những tham vọng của Trung Quốc với lãnh thổ nước ta vẫn không hề dừng lại, thậm chí còn công khai và táo tợn hơn rất nhiều.

Tôi luôn tin rằng, lòng yêu nước không phải của riêng ai. Ai cũng sẽ yêu nước, dù ít hay nhiều. Và mỗi người đều có quyền yêu nước theo cách của mình. Nhưng ở vị trí người lãnh đạo đất nước, lòng yêu nước ấy phải là tuyệt đối. Bởi mỗi quyết định liên quan đến con người đó đều ảnh hưởng đến vận mệnh dân tộc.
Nên, chừng nào trong đầu một nhà lãnh đạo còn có những chuyện cá nhân chi phối, thì chừng đó họ sẽ không thể anh minh trong những quyết định liên quan đến vận mệnh dân tộc. Như cha tôi lúc còn sống luôn nói rằng, khi người ta đã yêu đất nước đến vô cùng, đến mức trái tim chỉ có thể đập vì nó, thì họ sẽ luôn tìm được con đường đúng nhất.
Một lần, khi ghé thăm cửa khẩu Hữu Nghị, nơi được coi là biểu tượng hàn gắn của mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc sau giai đoạn chiến tranh, tôi đã thấy ở nơi trưng bày những kỷ vật về mối quan hệ hai nước, có tất cả những tấm ảnh lãnh đạo Việt Nam qua nhiều thế hệ, trừ cha mình.
Trong sâu thẳm, tôi tự hào về điều đó: Cha tôi, TBT Lê Duẩn là người quyết bảo vệ đến cùng từng tấc đất ở đây. Trái tim ông đã xui khiến ông hành động như thế. Và nếu còn sống đến hôm nay và đối mặt với vấn đề biển Đông, ông cũng sẽ chỉ có duy nhất một lựa chọn đó!”.
Đọc thêm để hiểu thấu nỗi buồn không của riêng ai:
1) Con trai Tổng bí thư Lê Duẩn và ký ức đám cưới ngày 17.2.1979:

“Hôm nay, 17.2.2014, đúng 35 năm ngày mở đầu cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biên giới phía Bắc, cũng là kỷ niệm 35 năm ngày cưới của tôi.

Năm 1979, tôi 24 tuổi, 7 năm quân ngũ và bắt đầu làm việc tại Viện kỹ thuật không quân.

Năm 1979, đất nước vừa ra khỏi cuộc chiến tranh chống Mỹ được bốn năm. Có thể lớp trẻ bây giờ khó mà hình dung nổi bối cảnh đất nước lúc đó nhưng tôi cũng không thể nói gì cho đủ nghĩa hơn bằng ba chữ: Rất khó khăn! Hồi đó, bộ đội như chúng tôi được phát mỗi tháng 21 kg gạo nhưng vẫn đói bởi thiếu chất. Hồi đó, mỗi năm, mỗi người dân khó có nổi một bộ quần áo mới. Hồi đó, mẹ tôi làm ở Ban tuyên giáo An Giang, thỉnh thoảng lại phải “cứu viện” chất đạm cho các con, khi thì gửi ít tôm khô, hoặc các loại mắm Nam Bộ. Những đứa con miền Bắc của bà tập quen ăn mắm từ những ngày thiếu, đói đó.

Đầu năm 1979, khi quyết định sẽ cưới vợ, tôi vào An Giang thăm mẹ. Bà, người phụ nữ nhiều năm xa chồng con, biền biệt chiến trường có vẻ như chưa hề được sống một ngày của thời bình. Bà cho tôi xem những bức ảnh chụp những người dân bị Pol Pot giết hại. Lần đầu tiên, trong đời, tôi nhìn thấy hình ảnh những con người bị giết một cách khủng khiếp và man rợ như thế. Hàng chục, hàng trăm người đều chết cùng một tư thế: Miệng há ra, mắt mở man dại. Mẹ tôi giải thích họ bị đâm bằng những que nhọn từ hậu môn lên đến đỉnh đầu…

Năm 1979, trước ngày 17.2, những người lính chúng tôi đã được phổ biến về những va chạm lớn trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Nói như thế để nhắc lại rằng, ở thời điểm đó, đất nước chúng ta ở vào thời điểm vô cùng khó khăn. Thiếu, đói… chỉ là yếu tố rất nhỏ trong 2 chữ KHÓ KHĂN đó.

Thế nhưng, cũng sẽ chẳng ai hình dung nổi, khi còn thiếu mặc và đói ăn đó, chúng tôi được giao nhiệm vụ thử nghiệm chế tạo máy bay…

Ngày 16.2, báo động cấp 1 toàn quân được chuyển xuống cấp 3.

Sáng thứ bảy,17.2.1979, Trung Quốc tấn công trên toàn tuyến biên giới.

Tối hôm đó, đám cưới của tôi vẫn diễn ra. Vẫn gần đông đủ những cán bộ cao cấp: Trường Chinh, Tố Hữu, Đại tướng Văn Tiến Dũng… Gọi là đám cưới nhưng thực ra thì cũng là một bữa tiệc nhà có chút rượu, trà thuốc và kẹo. Tôi thoáng thấy sự căng thẳng trên gương mặt của những lãnh đạo đơn vị và quân chủng không quân.

Cha tôi – Tổng bí thư Lê Duẩn – và các lãnh đạo cao cấp vẫn nói chuyện bình thường, không nhắc gì về những gì đang diễn ra ở biên giới. Đặc biệt, nét mặt cha tôi rất bình thản, không hề để lộ (hoặc có thể không có) cảm giác âu lo hay căng thẳng gì. Cũng có thể nhờ thế, chỉ vài chục phút sau khi bắt đầu hôn lễ, không khí căng thẳng trong nhóm sĩ quan quân đội được giải tỏa, trở lại bình thường. Hôm sau, một người bạn binh ngũ nói với tôi: “Hôm qua thấy đám cưới vẫn diễn ra, thấy mọi việc vẫn bình thường, và đặc biệt, nhìn nét mặt của ông già mày, bọn tao tin Trung Quốc chẳng đánh đến Hà Nội được đâu…”.
Chú rể Lê Kiên Thành và cô dâu Nguyễn Thị Tú Khanh
trong đám cưới ngày 17.2.1979 – Ảnh tư liệu gia đình  
Tôi không bao giờ tưởng tượng rằng mình sẽ có một đám cưới như trong nhiều bộ phim mà mình từng xem thời niên thiếu: Sau đám cưới, chú rể trở về ngay đơn vị…

Ngay sau ngày cưới, tôi trở về đơn vị và bắt đầu cuộc sống của người lính thời chiến tranh. Thỉnh thoảng chủ nhật vợ tôi đến thăm chồng; khi ra về mắt đỏ hoe, làm tôi thấy thương cảm vô cùng!

Lúc đó, nghe nói rằng, chúng ta đã chuẩn bị cho một chiến bằng không quân để bảo vệ biên giới.
Những người tham gia thiết kế, chế tạo chiếc máy bay Việt Nam đầu tiên TL-1.
Từ trái qua phải: Lê Kiên thành, Trần Mạnh Chung, Nguyễn Văn Hải, Bùi Thanh Châu.
Đây là những ngày bay thử trên sân bay Hoà Lạc – Ảnh tư liệu gia đình 
Thế nhưng, điều đặc biệt là những ngày tháng đó, Hà Nội vẫn bình thường. Bình thường trong một cuộc chiến hết sức không bình thường. Khi tiếng súng đã nổ ra ở biên giới nhưng mấy tháng sau thì kết thúc, người Hà Nội điềm tĩnh pha chút tự hào kín đáo nhìn lại: Trung Quốc đã không thể kéo dài cuộc chiến và không thể đánh đến Hà Nội…

Cha tôi còn nói: Nếu theo lẽ bình thường, Trung Quốc không nên đánh Việt Nam…

Nhưng có lẽ người Việt Nam là vậy, một khi điều bất bình thường nhất đã xảy ra, họ bình thản đón nhận.

Và tới năm 1980, chiếc máy bay đầu tiên do người Việt Nam tự thiết kế và chế tạo mang tên TL-1 đã bay trên bầu trời Tổ quốc. Năm 1981, đứa con trai đầu lòng của tôi ra đời, tôi đặt tên là Lê Kiên Dũng.

Và cũng là bình thường khi kỷ niệm 35 năm ngày cưới, tôi không thể quên, ngày cưới của mình trùng với ngày nổ ra chiến tranh biên giới. Tất nhiên không nên ôm chặt những chuyện không vui của quá khứ nhưng hãy hiểu quá khứ để nhìn về tương lai một cách chuẩn xác hơn!”
Lê Kiên Thành/Thanh Niên

2) Trực thăng quân sự  Campuchia rớt, vì ‘hàng’ TQ ‘có vấn đề’?: “Vụ rớt chiếc trực thăng Hắc Long Giang Z-9, một trong nhóm trực thăng mà không quân Hoàng gia Campuchia (RCAF) nhận của TQ hồi năm 2013- bị rơi trong lúc bay tập ở huyện Dangkor của Thủ đô Phnom Penh khiến 5 người chết và 1 người bị thương nặng”

http://motthegioi.vn/tieu-diem/truc-thang-quan-su-campuchia-rot-vi-hang-tq-co-van-de-86823.html

3) Trực thăng Campuchia rớt, 2 tướng quân đội thiệt mạng: “Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Campuchia là ông Tea Banh trực tiếp triển khai công tác cứu hộ và chỉ đạo các cuộc điều tra làm rõ nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn. Trong số người thiệt mạng có hai vị tướng: Trung tướng Un Bunnaha, Chỉ huy chuyến bay trực thăng và phi công kỳ cựu của Không quân Hoàng gia Campuchia; Thiếu tướng Ieng Vannarith, Phó Tư lệnh Không quân Hoàng gia Campuchia phụ trách kiểm tra công tác huấn luyện… Chính phủ Campuchia cho biết chiếc máy bay trực thăng này là một chiếc Z-9 do Trung Quốc sản xuất. Chính phủ xứ chùa Tháp đã mua 12 chiếc máy bay này vào năm 2013 trong một thỏa thuận cho vay và mua sắm trị giá gần 200 triệu USD với chính phủ Trung Quốc… Được biết, đây không phải lần đầu tiên xảy ra vụ rơi máy bay trực thăng ở Campuchia. Năm 2008, do thời tiết xấu một máy bay trực thăng cũng đã bị rớt khiến Cảnh sát trưởng Hok Lundy, phó chỉ huy quân đội và hai phi công thiệt mạng.”

http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/cam-helicop-crash-07142014111840.html

4) Mỹ phải làm gì khi Trung Quốc thô bạo với Hồng Kông?: “Khi tiếp nhận Hồng Kông năm 1997 từ Anh, Trung Quốc hứa sau 20 năm sẽ cho người dân Hồng Kông tự do lựa chọn người lãnh đạo. Nhưng giờ thì Bắc Kinh đang muốn nuốt lời hứa. Họ muốn người dân Hồng Kông bỏ phiếu bầu lãnh đạo của mình, nhưng các ứng cử viên lại phải do “hội đồng” gồm những người thân Bắc Kinh đề cử.

Ngoài ra, các ứng viên phải có phẩm chất “yêu nước”, mà theo cách hiểu rõ ràng hơn là “yêu Bắc Kinh”. Giữa tháng 6.2014, Bắc Kinh ra cáo bạch khẳng định rõ không thể có dân chủ đầy đủ tại Hồng Kông như người dân ở đây mong muốn.”

http://motthegioi.vn/quoc-te/my-phai-lam-gi-khi-trung-quoc-tho-bao-voi-hong-kong-85865.html


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: