Đăng bởi: leminhtam | Tháng Ba 4, 2008

Điểm tựa

“Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người”
(Đỗ Trung Quân)

Cứ mỗi mùa hè đến, khi tiếng ve kêu rộn rã phố phường, học sinh các trường được nghỉ hè thì lòng tôi lại xốn xang, bởi vì các bạn lại nô nức về quê mình ở nông thôn để thăm ông bà nội ngoại, về quê để tắm sông, về quê để đi mót thóc, giúp anh chị chăn trâu cắt cỏ,… Cứ mỗi lần quay về lớp sau hè là các bạn lại kể bao nhiêu chuyện về quê hương mình, nơi ông bà nội ngoại đang sống. Mỗi lần như thế bài thơ “Nhớ con sông quê hương” lại chảy lai láng trong đầu tôi mà lúc đó chưa lần nào tôi được về quê của mình cả, chưa bao giờ tôi được nhìn thấy ông bà nội ngoại của mình. Tôi đọc truyện “Đất rừng phương Nam” kỹ từng câu, từng chữ để mà tưởng tượng về mảnh đất quê hương của mình cũng giống như vậy: đầy tôm cá, dừa,… giống như trong bài hát “Miền Nam em dừa nhiều, Miền Nam em dứa nhiều, Miền Nam em xoài thơm, Miền Nam em khoai bùi. Nhớ em nhớ, bao giờ, bao giờ cho em hái dừa, hái xoài khắp trên cánh đồng quê,…”. Hoặc như bài thơ cứ đi lại trong đầu tôi suốt cả thời thơ ấu:

“Quê hương tôi có con sông xanh biếc

Nước gương trong soi tóc những hàng tre

Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè

Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng

Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng

Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi

Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi…”

Hoặc khi nghe bài hát “Ở tận sông Hồng em có biết, quê hương anh cũng có dòng sông, anh mãi gọi với lòng tha thiết,…” thì lúc nào trong tôi cũng xuất hiện một dòng sông quê hương trong tưởng tượng, cũng lai láng, tha thiết như vậy mặc dù tôi chưa bao giờ được tắm trong dòng sông đó, bởi đất nước tôi lúc đó còn bị chia cắt, còn chúng tôi là sản phẩm của một đất nước đau khổ như vậy. Họ đã đánh cắp mất quê hương tôi. Tôi còn nhớ bài hát nguyên thể ban đầu phải là “Bạn ơi, hãy đến quê hương chúng tôi, có rặng dừa xanh xa tít chân trời, người thiếu nữ dạt dào tình trẻ, dáng xinh tươi sao chẳng muốn cười” , nhưng nay đã thay bằng câu “dáng xinh tươi, đang tuổi yêu đời” đã nói lên phần nào nỗi niềm của những người bị đánh cắp mất quê hương thời bấy giờ. Tôi chỉ sinh ra trên quê của mình mà đã vậy thì những người đã từng sống ở đó cả thời thơ ấu, cả thời thanh niên của mình thì còn nhớ quê, ba má, ông bà, anh chị em ruột thịt, họ hàng, bạn bè của mình đến mức nào? Tôi đã từng theo má Như Anh để đi về quê Như Anh ở Quảng Bình, được tắm trong dòng sông Nhật Lệ trong vắt, thấy cả sỏi đá dưới đáy nước mới cảm nhận được niềm thích thú về quê của các bạn mỗi khi hè về như thế nào. Má Như Anh còn cho chúng tôi đến tận vĩ tuyến 17, nhìn qua bờ bên kia để nhìn thấy Miền Nam – một phần mảnh đất quê hương tôi, cũng là một phần mảnh đất quê hương của cô mặc dù quê cô ở xa tít tận đồng bằng sông Cửu Long. Lúc đó tôi nhớ là do nhìn thấy những người lính Cộng hòa Miền Nam đeo súng đi lại làm tôi cảm thấy sợ hãi nhiều hơn. Bài hát “Bên ven bờ Hiền Lương, chiều nay ra đứng trông về, mắt đượm tình quê, ôi mắt đượm tình quê…” lại đi về trong đầu tôi. Những năm tháng sống ở Trại sơ tán Lập Thạch cũng cho tôi biết được cảm giác vui vẻ, được đi chân đất trên bãi cát sông, được trèo cây ổi cây sung bên bờ ao, được tắm sông tắm suối, được vào hang động trong núi, được ngửi hương lúa thơm của đồng quê, được khỏa chân vào ao bèo để tìm các loại con trốn ở trong đó,… như thế nào. Cứ mỗi lần mùa hè đến thấy các bạn rộn ràng về quê là lòng tôi lại buồn man mác. Cảm giác không có ông bà nội ngoại mới buồn làm sao! Tôi vẫn tưởng tượng các bạn được nghe ông bà kể chuyện cổ tích, được nhổ tóc bạc cho ông bà, được theo đuôi ông bà để biết chuyện này chuyện nọ,… đã thiếu thốn ba má mà lại còn không có ông bà nội ngoại nữa thì đúng là buồn thật. Tôi vẫn nhớ là mình rất khao khát có anh chị (để bảo vệ mình, vì tôi là con gái đầu lòng và ở đâu cũng là chị lớn nhất) và khao khát có ông bà nội ngoại, dù chỉ trông thấy một lần thôi. Qua đây tôi cũng thấu hiểu được các bạn mồ côi hay không biết bố mẹ mình là ai sẽ khao khát gặp bố mẹ mình như thế nào. Như Anh và Như Hà cũng chưa bao giờ được gặp bố mình cho tới ngày đất nước thống nhất. Trong ảnh là má của Như Anh, cô Kim Phương – một phóng viên liệt sĩ của Báo PNVN đã đã nằm lại quê hương ĐBSCL của mình trong chuyến đi công tác viết về người phụ nữ Miền Nam lúc bấy giờ. Ảnh chụp tại Quảng Bình trong lần cô tha hai chúng tôi về thăm quê ba Như Anh. Trong ảnh Như Anh đang nũng nịu dựa vào má, hai má con giống hệt nhau từ cái mũi, cái mắt, cái tai, chỉ duy cái miệng bậu là giống ba. Tôi nghĩ rằng chính Như Anh cũng không còn giữ tấm ảnh này.

Chuyến đi về quê đầu tiên của tôi là chuyến tàu thống nhất, cùng cả chục đồng nghiệp vào TTTT tại TP HCM. Các bạn thử tưởng tượng xem tôi hồi hộp như thế nào khi tàu đi qua quê hương của tôi. Mọi người trong đoàn quy ước với nhau là tàu đi qua quê ai thì người đó phải chiêu đãi tất cả mọi người trong đoàn một đặc sản của quê hương mình. Tôi chỉ biết quê hương mình qua sách báo, do ít có dịp được ngồi riêng với ba má để nghe kể về quê hương mình nên tôi cũng không rõ ở quê tôi thì có đặc sản gì. Tôi chỉ nhớ một bạn cùng lớp (vượt biên ra Bắc hồi lớp 6 nên cũng biết một tý về quê thứ thiệt của mình) thỉnh thoảng bảo là ở quê tôi có biển xanh biếc và có nhiều nhà có giàn hoa thiên lý,… Nói tóm lại hình dung ra quê mình rất mơ mộng. Thế mà trên đường về quê, khi nghe tàu hỏa đang rầm rập lăn bánh qua cầu Hiền Lương, chúng tôi nhào ra cửa sổ để nhìn cho rõ chiếc cầu huyền thoại này (nhất là huyền thoại về chiếc cột cờ bên 2 đầu cầu), trông thấy mảnh đất đầu tiên của Miền Nam yêu dấu thì ấn tượng đầu tiên của tôi là sao mà nhiều cát trắng thế? Sao mà nhiều mồ mả thế? Sao mà nhiều dây thép gai buộc nhằng nhịt khắp nơi thế? Tôi đã sợ dúm cả người vì xấu hổ, sợ các bạn bảo là quê tôi trông xấu quá và sợ nhất là chính tôi cũng nghĩ như thế. Lúc đó tôi đâu biết là tàu hỏa đang đi vào Đông Hà Quảng Trị – một nơi ghi dấu tích ác liệt nhất của chiến tranh, chúng tôi đang đi vào sự thật trần trụi của một đất nước sau chiến tranh. Tôi cũng đã từng trông thấy một bạn gái của tôi (vừa mới đi học nước ngoài về, trông xinh đẹp và hiện đại) đã sợ dúm cả người vì xấu hổ khi phải giới thiệu với mọi người bà mẹ của mình vừa ở quê ra. Bà mặc áo nâu sồng, đội khăn mỏ quạ, răng đen nhai trầu bỏm bẻm và chân đi đất nứt nẻ. Tôi cũng thông cảm với các bạn hoặc sinh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài về nước sợ dúm cả người khi trông thấy cảnh giao thông đi lại hỗn độn như ở nước ta hiện nay – một nước nông nghiệp lạc hậu đang trên đường công nghiệp hóa. Bởi tôi cũng đã từng sợ dúm cả người khi nghe một số bạn nam cùng lớp hồi phổ thông (từng đi bộ đội trở về) vui vẻ, hồn nhiên kể lể chuyện đã tham gia vào đội quân đi xẻ quân loe ở trên phố phường Hà Nội lúc bấy giờ (do quan niệm về văn hóa quá khác nhau, mặc dù tôi lúc đó là cô gái khá giản dị nhưng cũng có nhiều quần loe vì mốt lúc bấygiờ là như vậy ở nơi tôi học ĐH, chỉ khi về nước là tôi phải cất đi theo xu thế chung của mọi người trong nước và lại đánh chiếc quần lụa đen và mặc áo màu bộ đội như mọi người mà thôi).

Tôi lại càng ngỡ ngàng hơn về đô thành hoa lệ, viên ngọc viễn đông của vùng ĐNA khi đi thăm bà cô ruột ở khu nhà ổ chuột ven sông SG. Tôi và một cô bạn nữa (là con gái một bác thứ trưởng Bộ ĐH&THCN lúc bấy giờ và là Bộ GD-ĐT hiện nay, bạn cũng vừa đi học nước ngoài về, bạn thích vào SG sống độc lập vì ở nhà ba má lúc nào cũng nhắc nhở nào là mặc áo, nào là đi tất, nào là quàng khăn,…) phải len lỏi mãi mới tìm thấy nhà của cô tôi, phải đi qua một cái cầu nhỏ như bắc qua một cái mương mà cũng phải trả tìền. Nhà cô tôi nhỏ lụp xụp ven sông đen ngòm, cả lũ em họ hân hoan khi thấy tôi tới thăm, hóa ra đứa có mái tóc vàng hoe đang sửa xe máy đầu ngõ là em họ tôi, một đứa khác nhìn tôi ngỡ ngàng thấy có vẻ đúng họ hàng (vì tôi rất giống cô) rồi nói là đi làm. Tôi hỏi cô xem nó làm ở đâu, hóa ra em ra rạp chiếu phim chen lấn mua nhiều vé để bán lại. Cô tôi đang bế một bé út trên tay với cái cổ mềm oặt, không thể nhấc đầu lên được (về sau em mất sau vài tháng). Đứng lố nhố thấp thoáng là một lũ em khác cũng là con của cô, chúng ngó vào tò mò xem chúng tôi là ai. Cô tôi gọi là cô Sáu của tôi mừng lắm vì có cháu gái ruột tận từ Bắc vô tìm gặp mình. Cô đuổi bay hết cả lũ em họ của tôi đi chỗ khác, rồi cô kêu đúng hai tô mì cho chúng tôi ăn, còn các em họ chỉ được đứng lấp ló nhìn thôi, không được ăn. Tôi không thể ăn được trong tình trạng như thế. Tôi vẫn hình dung ra căn nhà nhỏ bé và ấm cúng của cô tôi, bữa ăn giản dị đơn xơ nhưng đầy đủ cả nhà,… Cả cái toalét cũng buồn cười, đúng là ở dạng “nowhere” để nuôi cá trên sông.

Khi kết thúc công việc, trong chuyến đi ra HN từ TP HCM bằng tàu hỏa, tôi quyết định rẽ về quê của tôi, đi một mình, lần đầu tiên về quê, không đi với ai cả. Mặc dù hồi đó đi một mình là rất bất an, các chuyến tàu thống nhất Bắc-Nam đều phải có công an hoặc bộ đội mang súng theo để bảo vệ nhân dân vì còn phỉ Vàng Pao và nhiều điều vẫn còn chưa bình thường sau chiến tranh. Tàu thống nhất đông người đi như vậy nhưng vẫn không bao giờ dừng nghỉ đêm ở nơi núi rừng âm u. Thế nên tôi quyết đi một mình thôi. Tôi muốn đến tận cùng nơi được gọi là quê của tôi – ở nơi mà ông bà nội tôi đã sinh ra ba tôi, bác tôi, chú tôi, các cô tôi – nơi mà tôi vẫn ghi trong lí lịch của mình là quê của tôi. Sẽ không có ai đủ thời gian để đi cùng với tôi lâu như vậy, đi xa đến nơi hẻo lánh và chắc là còn điều bất ngờ nữa sẽ xảy ra ở nơi được gọi là quê của tôi.

Xuống ga tàu – nơi được gọi là thành phố của quê hương tôi, tôi dễ dàng tìm được nhà bác tôi (bác đã đón bà nội tôi về đây) và nhà ông bà ngoại của tôi vì cả hai nhà đều nằm trên hai phố lớn nhất của thành phố. Bà nội tôi cũng răng đen nhai trầu bỏm bẻm, mặc áo nâu sồng, bà đã ngoài 70 tuổi mà vẫn gánh nước phăng phăng vì bà đã quen như thế ở quê rồi. Tiếng bà nội nói tôi không thể nghe và hiểu được, ngoài âm điệu khắc hẳn thì cách gọi các đồ vật, con vật,… cũng khác. Thí dụ con lợn là con heo, hộp diêm là hộp quẹt, xe buýt gọi là xe đò,… Ông nội của tôi đã mất cùng với cô Bảy (cô hay bế tôi nhất hồi má tôi mới sinh ra tôi) trong một lần máy bay Mỹ bắn rốc két xuống đúng sân nhà tôi ở quê (tôi nhớ có lần ba đóng chặt cửa phòng ngồi uống rượu một mình trong vài ngày liền, má tôi nói đó chính là lần nghe tin ông nội mất đó). Trái lại, nhà ông bà ngoại thì lại giàu nhất thành phố, ông bà đã hiến cả chục ngôi nhà trong thành phố cho Chính phủ. Tóc ông ngoại bạc phơ nhưng đầu óc ông thì vẫn minh mẫn vô cùng, trong khi bà ngoại thì đã lẫn, bà không hiểu có người đàn bà nào mà vẫn ở lại trong nhà khi trời đã tối làm ông ngoại cứ phải giải thích mỏi cả mồm mà bà vẫn không hiểu. Ông ngoại tôi cũng từng nuôi cán bộ trong nhà mình ngay giữa phố như vậy, cũng đã từng hiến cả con trai, cả con gái, nhiều vàng và tiền cho cách mạng. Bác tôi là liệt sĩ, còn má tôi trốn ông ngoại để đi theo cách mạng từ năm 17 tuổi (mà về thực chất là trốn đi theo ba tôi) nên ông ngoại nhớ thương má tôi khôn nguôi. Má tôi kể là khi nghe tin má sinh tôi, ông ngoại đã nói người giúp việc đùm ít vàng vượt qua bao cửa ải (cả phía cách mạng lẫn phía bên kia) để mang vào vùng cách mạng cho má tôi, thế mà ba tôi không cho má tôi nhận (tiếc thật!) nên bà giúp việc lại phải đùm mang về, bà lại phải vượt qua từng nấy cửa ải nữa. Khi nghe tôi về thăm, bà giúp việc về tận nơi xem tôi lúc đó lớn ra sao. Tôi rất sung sướng vì đã gặp được ông bà nội ngoại của mình. Thế nhưng tôi vẫn muốn đi về tận cái nơi mà ba tôi vẫn bảo đó là quê của tôi, ở nơi đó có mộ của ông nội tôi và cô Bảy của tôi, ở đó còn có một bà cô ruột nữa của tôi mà tôi phải gọi là cô Bốn. Chẳng ai có thể đi cùng với tôi được vì ai cũng bận công việc hoặc yếu sức khỏe mà quê của tôi thì xa và phải đi đò cả tiếng đồng hồ. Chỉ có mỗi chú út cụt hai chân là đồng ý đi với tôi về quê thôi. Chú tham gia quân giải phóng, bị bắt ở trận Mậu Thân 1968 khi tiến vào SG và không thoát ra được, chú bị đi đày ở Côn Đảo rồi được trao trả năm 1972 sau Hiệp định Paris, rồi chú lại tham gia đánh trận giải phóng quê tôi và bị mất cả hai chân.

Chú đeo nạng tập tễnh đưa tôi về quê, phải đi xe đò đến tận một cố đô nhỏ khác ven sông, rồi gọi thuyền, rồi nhảy xuống thuyền đối với tôi đã khó vì tôi chưa bao giờ đi thuyền như thế cả, đối với chú tôi xuống được thuyền là cả một nỗi vất vả. Nhưng bù lại, đây đúng là dòng sông trong mơ của tôi, nó xanh thẳm, hiền dịu, chảy lững lờ,… tôi được ngồi rất lâu để ngắm cảnh hai bên bờ rồi mới đến được quê tôi ở giữa một hòn cù lao. Quê tôi đây! Một hòn cù lao không một bóng cây, nắng chang chang, cát trắng xóa. Thế mà má tôi kể là cây ăn quả đầy vườn, chú, bác, ba tôi và các cô tôi đều có mỗi người một cây ăn quả do ông nội tôi trồng khi người đó sinh ra. Cô Bốn hai chân bị liệt lết ra cửa đón tôi, cô cũng nhai trầu bỏm bẻm, mặc áo nâu sồng. Cô vui lắm và nói cũng nhiều. Cô nói là máy bay Mỹ “nó” càn nhiều quá nên cây cối chết hết cả rồi, trắng trơn để “nó” nhìn cho rõ là không có gì cả. Cả cù lao chỉ có một cây trứng cá mới trồng, mộ ông nội tôi, mộ cụ tôi, mộ cô tôi đều là những gò cát trắng phơi mình dưới nắng. Đặc biệt ruồi thì nhiều vô kể. Chúng bậu đen cả sàn nhà, tôi không thể nuốt cơm được, phải đợi đêm đển trăng sáng thì mới lọ mọ lấy cơm ra ăn. Trong đầu tôi lại xuất hiện bài hát: “Miền Nam em ruồi nhiều, Miền Nam em muỗi nhiều,…”. Lúc về, chú đưa tôi đi đò đến tận cửa sông – nơi con sông đổ ra biển lớn để coi. Tôi dừng lại ở đây một đêm vì có nhà các em họ của tôi ở đây. Nhà các em họ bên cạnh những cây dừa soi bóng xuống sông i chang (giống hệt – tiếng quê tôi) như tôi vẫn tưởng tượng ngày nào. Buổi tối, mọi người rủ nhau đi tắm biển, trăng rất sáng, cả lũ thi nhau đi bằng cùi chân dưới biển như chú tôi xem ai nhanh nhất. Hóa ra chú tôi vẫn là người đi nhanh nhất bằng cùi chân. Các bạn ạ, chỉ khi chú tôi gỡ chân gỗ ra cho mọi người thấy cái cùi chân của chú như thế nào thì các bạn mới cảm giác hết được sự tàn nhẫn của bom đạn. Mọi người lặng đi. Chú bảo, có lúc còn có dòi nữa đấy!. Đã thế sinh hoạt hàng ngày thì rất là khó khăn đối với chú nhưng rồi chú cũng quen. Chỉ có điều chú lúc nào cũng yêu đời, chú hay gảy đàn ghi ta, hay hát – chú bảo chú học được những điều này từ trước khi bị cụt chân.

Vẫn chưa hết. Một hôm, chú út báo tin chú sẽ ra Bắc để nghỉ ở trại anh dưỡng dành cho thương binh, trại đóng ở Hà Bắc. Tôi rủ một bạn gái cùng học ĐH đến thăm chú ở đây. Đến bữa cơm, chú tôi và 7 chú thương binh nữa cùng xúm vào bàn ăn, nói chuyện rôm rả. Một chú đố hai chúng tôi: Trong bàn ăn này có 8 người là nam thì còn mấy cái chân, mấy cái mắt, mấy cái tay? Chúng tôi đoán sai chậc lấc (sai hết – tiếng quê tôi) vì trông mọi người cao lớn, đẹp trai, vui vẻ và di dỏm như vậy mà chỉ còn có 12 cái chân 14 cái tay và 13 cái mắt. Có người bị mù cả hai mắt, có người bị cụt cả hai chân như chú tôi, có người chỉ còn hai cùi tay, có người thì chỉ còn một tay một chân, có người thì chỉ còn một tay một mắt,… Thế nhưng các chú cụt cả hai tay vẫn thu được quần áo từ dây phơi và gấp quần áo khá đẹp bằng cả hai cùi tay của mình, có chú bị mù cả hai mắt mà mọi người nấp vào đâu chú cũng đoán ra. Buổi tối, các chú ầm ầm chạy đuổi theo một con vật nào đó, cả phòng ngủ gần chục chú cứ như cái chợ vỡ, cuối cùng chúng tôi được ăn món sốt vang mèo do các chú tự nấu lấy cho chúng tôi ăn. Điều này làm tôi nhớ có lần chú tôi kể: Hồi ở Côn Đảo phải đi làm khổ sai, tuổi còn trẻ, lao động nhiều mà ăn thì ít nên có lúc các chú phải ăn cả con thạch sùng sống cho no. Tôi hỏi: Chú ăn như thế nào? Chú bảo: Làm gì có lửa mà nướng đâu, chú cứ cho vào mồm rồi nuốt chửng. Có hôm chú phải ăn cả con mối (hay xông gỗ hoặc đất thành mục ruỗng), mối trắng béo ngậy cũng ngon đấy!. Sợ quá đi mất.

Thế rồi một hôm chú bảo với tôi là chú hiện đang có tận hai cô gái đang yêu chú, chú không biết nên chọn ai vì chú không dám đùa cợt với tình yêu của họ. Chú thương họ và thương cả bản thân nữa, từ chối thì họ buồn mà không từ chối thì sợ họ khổ. Rồi lâu lâu sau chú lại bảo: hai cô vẫn tiếp tục yêu chú, chú phải chọn một trong hai người làm vợ, biết chọn ai? Các bạn có thể không tin, nhưng hoàn toàn đúng là như vậy. Chú kể: Một cô thì hát rất hay và hay hát, rất hợp chú trong trò chuyện, vui chơi, cô trông rất đẹp gái, óng ả, rất biết ăn diện và rất yêu chú. Một cô chính là người được phân công chăm sóc chú (vì hồi đó mỗi thương binh 8/8 hưởng tiêu chuẩn có người chăm sóc, Nhà nước trả tiền lương cho họ). Cô này trông bình thường, ít nói, tận tụy, ăn mặc giản dị và cũng rất yêu chú. Biết chọn ai đây? Tôi cũng tin là như vậy vì chú tôi khá đẹp trai , thông minh và tài hoa. Những quyển nhạc và bài hát hay nhất mà tôi dành dụm mua được thời SV tôi đều biếu chú cả, để chú đàn hát cho mọi người cùng nghe. Hầu như những người thương binh mà tôi đã gặp ở Trại an dưỡng Hà Bắc đều như vậy, họ đều trẻ tuổi, thông minh và đẹp trai, điều này làm cho tôi thấy rõ sự dã man của cuộc chiến đến mức nào. Chiến tranh đã cướp đi biết bao những người trai trẻ như vậy của đất nước. Tôi quân sư quạt mo cho chú một số điều thích hợp với hoàn cảnh của chú nhất, còn tùy chú lựa chọn. Và thế là cô gái hàng ngày chăm sóc chú đã trở thành vợ của chú. Đến giờ chú đã có 3 đứa con, hai gái và một trai với một mái nhà êm ấm bằng tất cả sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của gia đình.

Tấm ảnh má Như Anh chụp với chúng tôi đã hơn 43 năm rồi. Đây là tấm ảnh ba tôi đưa cho tôi cách đây hơn 20 năm. Tôi đã dán nó trong tập anbum của Hội trại lần 1 (1984). Mọi người đều rất thích tập anbum này. Viện Bảo tàng Phụ nữ cũng từng đề nghị cô Tụy Phương và chú Xuân Ngọc tặng lại cho bảo tàng nhưng chú Ngọc cứ khăng khăng không đồng ý vì chú bảo đó là quyển anbum gia đình. Bây giờ chú bảo là nó thất lạc đâu mât rồi, chú không tìm được nữa. Tuần trước, chú gọi tôi đến lấy cái ảnh này, nó rơi ra ở đâu đó, còn anbum thì vẫn không thấy. Ngắm ảnh, tôi vẫn thầm khâm phục má Như Anh khéo chọn bố cục ảnh. Cô mặc áo dài và đội nón đúng kiểu phụ nữ VN truyền thống mặc dù lúc đó đang ở Quảng Bình, rất xa HN và đang đi chơi theo kiểu dã ngoại. Cô đứng bên cạnh cái cột chùa bằng đá chạm trổ hình con rồng rất đẹp. Cô đưa chúng tôi về thăm quê chồng tận Quảng Bình và đưa chúng tôi đến tận vĩ tuyến 17 xa xôi chứng tỏ ý thức giáo dục con cái về cội nguồn rất cao (trong đám bạn gái của tôi có người lấy chồng cả chục năm mà vẫn chưa lần nào về thăm quê chồng mặc dù nơi đó rất gần HN). Đó là chưa kể cô hay dạy Như Anh, Như Hà nấu nướng các món ăn rất ngon trong khi má tôi vì đông con quá nên hay quên điều này. Thỉnh thoảng tôi lại phải học mót lại từ Như Anh. Kể lại đây cho các bạn nghe để thấy rằng cô Kim Phương, má Như Anh và chú út của tôi luôn chịu khó đưa chúng tôi về cội nguồn đến thế nào! Họ cũng đã sống hết mình cho Tổ Quốc và gia đình. Họ là những người biết sống rất sâu sắc ngay từ khi còn rất trẻ, họ chính là điểm tựa của thế hệ chúng tôi khi còn trẻ và sẽ là điểm tựa cho cả thế hệ mai sau của đất nước.


Responses

  1. Một bài hát hay. Tặng các cô giáo và các bạn gái nhân dịp 8-3:

    http://luna4ever.wordpress.com/2008/02/06/va-toi-cung-yeu-em/

    p/s: admin nào làm tịt ảnh trong bài của tôi đó, thôi đùa được không?


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Danh mục

%d bloggers like this: