Ai phải trả lời?
NGUYỄN TRUNG DÂN ( Nguyên phó tổng biên tập báo Du lịch)
Tôi đã thử đặt trên bàn hai thứ: Một là các trang báo DU LỊCH số Xuân 2009 đã đăng các bài viết mà vì nó, báo bị đình bản 3 tháng – và cho đến tận hôm nay – toàn bộ nhân viên bị nghỉ việc không có lương ăn. Tôi thì bị đình chỉ chức vụ và thu hồi thẻ nhà báo. Và thứ khác và “lạ”, là bài báo trên trang Báo Điện tử của Đảng CSVN do ông Đào Duy Quát làm Tổng Biên tập, Trung ương Đảng là cơ quan chủ quản, đã dịch ra và đăng tải thông tin khoe sức mạnh của quân lực… “Tàu mình” đang tập trận nơi Biển Đông có Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam, ca ngợi sự biểu dương lực lượng của nước “Tàu mình” như chốn không người nhằm xác lập vai trò của kẻ xâm lược. So sánh để thử hiểu được điều gì đang xảy ra trên đất nước tôi và đau đớn phải hiểu ra là “không thể hiểu được”. Vì làm sao có thể hiểu nổi cùng là người Việt Nam “da vàng, mũi tẹt” mà ngôn ngữ “xa lạ” nhau đến vậy, cách đối xử với đồng đội, đồng chí mình sao mà ghê rợn như kẻ thù. Đình bản 3 tháng (từ 14/4/09 cho đên tận hôm nay – 26/9/09 là 5 tháng 12 ngày) là từng ấy ngày không lương ăn, không việc làm và kinh khủng hơn là không ai thèm biết đến sự tồn tại của hơn 50 con người đang vất vưởng, tội nghiệp chờ kiếm cho ra một người phụ trách mới. Mà là tội gì? Có chăng là tội muốn nói lên cho mọi người biết rằng Việt Nam vẫn có – và có nhiều – những thanh niên sẵn sàng xuống đường (và sẵn sàng chết) cho Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam (xem bài Tản mạn cho đảo xa của Trung Bảo). Và cho dù đã “lỡ lầm” mất Ải Nam Quan thì cũng cần ghi dấu “Hận Nam quan” cho con cháu mai sau biết được rằng: Nước Việt Nam ta hình cong chữ S, liền một dải từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mau (xem Hận Nam quan của Hoàng Cầm). Vậy thì đâu là điều đúng, sai để làm ra một quyết định kỷ luật như sau: Quyết định đình bản báo Du lịch căn cứ vào “những sai phạm nghiêm trọng của Báo Du lịch số Tết Kỷ Sửu 2009.” Theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, “lãnh đạo Báo Du lịch đã không chấp hành sự chỉ đạo đối với các thông tin quan trọng, phức tạp, nhạy cảm, cho đăng những thông tin trên số báo Tết Kỷ Sửu 2009 vi phạm nghiêm trọng các quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 6 và khoản 2 Điều 10 Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí.”
Có một điều, dù đã có một vài người biết, nay tôi cũng muốn được nói ra là tác giả Trung Bảo viết “Tản mạn cho đảo xa” là con trai đầu của tôi – đứa con mà khi nó vào đại học tôi đã căn dặn không được học và làm nghề báo. Bởi hơn 20 năm làm báo, tôi đã phải chứng kiến và trải qua bao điều dâu bể để mong con chọn sự bình an trong cuộc đời. Vậy mà như một định mệnh, cháu vẫn theo học khoa báo chí, ra trường làm việc ở báo Thanh Niên, và được xem là một thanh niên có ý thức đối với đất nước và có khả năng làm báo. Khi cầm bàì báo Trung Bảo viết cho số Xuân Du lịch, tôi đã đắn đo rất lâu. Trong tình hình lúc ấy, với sự nhạy cảm cần thiết, tôi hiểu được điều gì có thể xảy ra khi các bài báo này được in ra. Thế nhưng, tất cả những điều có thể xảy ra ấy có khiến tôi chùn tay không dám ký duyệt cho đăng bài viết này, mà khi đọc tôi thật sự xúc động tận tâm can? Tôi thương cho bầu nhiệt huyết của lớp lớp tuổi trẻ sẵn sàng xả thân mình, xuống đường biểu tình và có lẽ không ngần ngại hy sinh thân mình khi tấc đất quê hương đang bị xâm chiếm. Rồi tôi sợ. Tôi sợ phải đối diện với ánh mắt con tôi, sợ phải nghe câu hỏi là bao nhiêu sự tích anh hùng của cha ông, sao bây giờ lại thế này? Và điều quan trọng này nữa: Có phải khi đã yên vị ngôi cao, được phong thánh bằng niềm kiêu hãnh đem lại độc lập dân tộc thì đất nước, lòng yêu nước đã trở thành của riêng một nhóm người độc quyền bắt người khác phải nghe, phải theo mình, mà mình thì không thấy điều gì quan trọng hơn cái ghế của mình. Ghế Phó Tổng Biên tập phụ trách của tôi có đủ sức chịu đựng những câu hỏi ấy không? Và tôi, tôi đang ở đâu, ở nhóm nào khi đất nước đang có nguy cơ bị xâm lăng như vậy? Không phải chỉ tôi trả lời và không phải chỉ một mình con tôi hỏi. Cả dân tộc đang hỏi, và ai phải trả lời đây? Chọn đăng những bài báo ấy tôi còn có tính toán làm phép thử. Bởi tôi vẫn tin rằng đâu đó thẳm sâu trong lòng mọi người dân Việt tấm lòng yêu nước nồng nàn đã đưa đất nước vượt qua bao họa xâm lăng. sẽ khiến cho người có trách nhiệm biết cách lèo lái, sẽ phải “đưa cao đánh khẽ” để báo chí, công dân có cách thể hiện tấm lòng, sự quật cường, không chịu khiếp nhược vớí bất cứ kẻ xâm lược nào, khi mà vì lý do nào đó nhà nước đang còn vận động “ngoại giao”, và ngay cả khi cho là báo Du kịch có “sai” (nhưng sai rất chân thành). Tôi đã nhầm. Họ đã cư xử như “NGƯỜI LẠ”.
Tôi đã cố gắng giữ sự yên lặng. Không than phiền việc mất chức, ngồi không (cái chức mà tôi vẫn tự trào là chưa kịp khoe với bạn bè đã mất). Không viết lách gì và cũng không muốn phát biểu với ai để trần tình phải trái, dù rằng ai cũng đồng tình là tôi bị tai nạn, nhưng đều thấy tôi như người “chết rồi” từ khi có quyết định của Bộ Thông tin và Truyền thông. Vì tôi vẫn hy vọng, có thể ở “tầm của tôi” khó hiểu được cách làm, những ứng xử của “tầng vĩ mô”. Giờ đây tôi buộc phải thất vọng. Cách thể hiện trên trang Báo Điện tử của Đảng (có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện ĐẤT NƯỚC) và cách KỶ LUẬT BẰNG TIỀN sự sai phạm, đối nghịch hẳn với sai phạm của báo Du lịch, của những người đang nắm vận mệnh quốc gia như đã làm, thì thật sự không hiểu nổi điều gì đang xảy ra với dân tộc chúng ta. Nói không hiểu tức là đang hiểu vậy.
N.T.D. (tháng 9/2009) ( Tác giả gửi cho Quê choa:
http://quechoablog.wordpress.com/ )
Các bạn có thể đọc nội dung bài của Trung Bảo tại đây, bài báo đã làm tờ Du Lịch bị đóng cửa hơn 5 tháng nay, làm tòan bộ nhân viên (hơn 50 người) nghỉ việc không lương, lãnh đạo tờ báo bị đình chỉ chức vụ và thu thẻ nhà báo:
http://www.bauxitevietnam.info/c/11150.html
Hà nội ngày 27 tháng 9 năm 2009
Kính gửi Tiến sỹ luật Hà Hùng Cường, Bộ trưởng Bộ Tư pháp.
Thưa Bộ trưởng,
Tôi, Nguyễn Quang A, công dân Việt Nam, có hộ khẩu tại 19 Đoàn Nhữ Hài, Phường Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS, xin gửi Bộ trưởng lời chào trân trọng.
Ngày 8-9-2009 Bộ trưởng đã thừa ủy quyền của Thủ tướng ký công văn số 3182/2009/BTP-PLDSKT (sau đây gọi tắt là công văn 3182) trả lời Kiến nghị ngày 6-8-2009 của Viện Nghiên cứu Phát triển IDS gửi Thủ tướng Chính phủ. Công văn 3182 đã được đưa lên trang tin điện tử của Chính phủ ngày 19-9-2009 và sau đó đã được nhiều báo trong nước đăng lại. Kiến nghị ngày 6-8-2009 cùng với Tuyên bố ngày 14-9-2009 của Viện IDS đã phân tích những điểm sai cả về nội dung và thủ tục của Quyết định số 97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục các lĩnh vực cá nhân được thành lập tổ chức khoa học và công nghệ (sau đây gọi tắt là QĐ 97).
Trong thư này, tôi chỉ trình bày với Bộ trưởng về thủ tục, trình tự xây dựng QĐ97 dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành trong thời gian xây dựng, soạn thảo, thẩm định và ban hành QĐ97, tức là trong năm 2008 và 2009.
- Ngày 29-11-2006, Quốc hội đã ra Nghị quyết số 71/2006/QH11 phê chuẩn Nghị định thư gia nhập hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Nghị định thư đã được Chủ tịch nước công bố ngày 19-12-2006, có hiệu lực thi hành từ 11-1-2007. Nghị định thư có kèm theo Phụ lục các cam kết của Việt Nam phải áp dụng trực tiếp mà điều liên quan đang bàn tới ở đây được nêu rõ tại Điểm 4 của Nghị Quyết số 71:
“Trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cơ quan, tổ chức hữu quan tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia góp ý kiến vào dự thảo văn bản quy phạm pháp luật; tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản. Cơ quan chủ trì soạn thảo phải đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ trên Trang tin điện tử của Chính phủ và dành thời gian không ít hơn 60 ngày, kể từ ngày đăng dự thảo để các cơ quan, tổ chức, cá nhân góp ý vào dự thảo”.
….
“Trong trường hợp quy định của pháp luật Việt Nam không phù hợp với quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm thì áp dụng quy định của Hiệp định thành lập Tổ chức thương mại thế giới, Nghị định thư và các tài liệu đính kèm”.
Như thế, kể từ ngày 11-1-2007 các thủ tục trên là bắt buộc (thay cho các thủ tục của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành nếu các thủ tục ấy trái với Nghị định thư).
- Ngày 11 tháng 6 năm 2007 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã kí công văn số 732/TTg-TCCB yêu cầu các Bộ và các cơ quan thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết 71 của Quốc hội.
- Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 17/2008/QH12 ngày 6-6-2008, có hiệu lực từ 1-1-2009 (sau đây gọi tắt là Luật số 17/2008) quy định tại điều 67:
“Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm đăng tải toàn văn dự thảo quyết định của Thủ tướng Chính phủ trên trang thông tin điện tử của Chính phủ hoặc của cơ quan soạn thảo trong thời gian ít nhất là sáu mươi ngày để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia ý kiến….
Cơ quan soạn thảo có trách nhiệm nghiên cứu ý kiến của cơ quan thẩm định, ý kiến của cơ quan, tổ chức, cá nhân để chỉnh lý dự thảo và báo cáo Thủ tướng Chính phủ”.
Theo các quy định nêu tại Nghị quyết 71 của Quốc hội, Nghị định thư gia nhập WTO và Luật số 17/2008, việc soạn thảo, thẩm định và ban hành QĐ97 đã không thực hiện hai điều có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng của văn bản:
tổ chức lấy ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản;
công bố dự thảo ít nhất 60 ngày trước khi trình lên Thủ tướng.
Như vậy, về thủ tục, QĐ 97 không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn trái với cam kết quốc tế.
Thế mà, trong công văn 3182 Bộ trưởng lại khẳng định:
Quyết định 97 đã “được cơ quan chủ trì soạn thảo là Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai xây dựng từ đầu năm 2008. Toàn bộ các bước soạn thảo; lấy ý kiến các Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức, cá nhân; lấy ý kiến thẩm định của Bộ Tư pháp và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định đã được hoàn tất trong năm 2008 theo đúng quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002. … Vì vậy, việc xây dựng và ban hành Quyết định số 97 là đúng thẩm quyền, đúng trình tự, đúng thủ tục, không vi phạm Điều 67 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008” .
Nói cách khác, ông Bộ Trưởng đã viện dẫn đến các điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2002. Ông đã không lưu ý rằng nếu các điều ấy trái với Nghị quyết 71 và Nghị định thư gia nhập WTO, thì phải áp dụng Nghị quyết 71 và Nghị định thư.
Tại công văn 3182, Bộ trưởng cho rằng vì việc soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định và trình Thủ tướng đã hoàn tất trong năm 2008 (nghĩa là trước ngày Luật số 17/2008 có hiệu lực thi hành) nên việc không công bố dự thảo 60 ngày trước khi trình Thủ tướng không vi phạm thủ tục (vì điều này không được quy định trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực đến hết năm 2008). Lập luận như vậy đã bỏ qua, không đếm xỉa tới Nghị quyết 71 của Quốc hội và văn bản 732/TTg-TCCB của Thủ tướng Chính phủ.
Công văn 3182 còn lập luận rằng “Những việc được thực hiện trong năm 2009 (nghĩa là từ khi Luật số 17/2008 có hiệu lực) chỉ là nghiên cứu ý kiến tham gia, cân nhắc tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Quyết định để ký ban hành. Ở giai đoạn này, ngay Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 cũng không quy định cơ quan soạn thảo phải đăng tải dự thảo Quyết định trên trang thông tin điện tử”. Sự biện bạch này rất khiên cưỡng vì người dân không thể biết quy trình soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định được tiến hành vào thời gian nào, chỉ thấy một sự thật hiển nhiên là QĐ 97 được ban hành sau hơn 200 ngày luật số 17/2008 có hiệu lực (gấp hơn ba lần thời gian cần công bố để lấy ý kiến rộng rãi) mà không thực hiện một quy định của Luật rất quan trọng và thiết thực đối với quyền làm chủ của dân. Như vậy, không thể coi QĐ 97 là “đúng trình tự, thủ tục, không vi phạm điều 67 Luật số 17/2008” như biện bạch của Bộ trưởng trong công văn 3182.
Điều kiện bắt buộc để bảo đảm tính hợp pháp của một văn bản pháp quy là việc xây dựng, soạn thảo, thẩm định phải chấp hành đúng các thủ tục quy định. Chỉ xét riêng về mặt vi phạm thủ tục, chưa nói tới những sai phạm về nội dung (như Viện IDS đã phân tích trong kiến nghị ngày 6-8-2009 và trong tuyên bố ngày 14-9-2009), QĐ 97 đã không thể được coi là hợp pháp.
Vì vậy, tôi tha thiết đề nghị Bộ trưởng, với tư cách là Thủ trưởng cơ quan có chức năng và trách nhiệm xây dựng và nắm vững pháp chế về ban hành văn bản quy phạm pháp luật và chịu trách nhiệm tổ chức, kiểm tra việc thực hiện pháp chế đó, thừa nhận rằng QĐ 97 vi phạm thủ tục quy định trong Nghị quyết 71 của Quốc hội, công văn chỉ đạo số 732 của Thủ tướng, Nghị định thư gia nhập WTO và Luật số 17/2008; trên cơ sở đó, kiến nghị với Thủ tướng hủy bỏ QĐ 97, giao cho các cơ quan hữu trách thu thập ý kiến rộng rãi và nghiên cứu kỹ hơn để xây dựng văn bản phù hợp với luật pháp, thấu suốt tinh thần Nghị quyết về trí thức đã được Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X thông qua tháng 7 năm 2008. Cách làm này sẽ góp phần củng cố lòng tin của dân đối với Chính phủ và Thủ tướng, nâng cao ý thức thượng tôn pháp luật, cải thiện hình ảnh của nước ta và tránh được rắc rối quốc tế có thể xảy ra; tránh được việc các trí thức hay công dân có thể dùng các công cụ pháp lí hợp pháp để kiến nghị Ủy Ban Thường vụ Quốc hội tuyên QĐ97 là vô hiệu.
Tôi viết thư ngỏ vì công văn thể hiện quan điểm của Bộ Tư pháp về vấn đề này đã được đưa công khai trên mạng và mong rằng thư trả lời của Bộ trưởng cũng dưới hình thức công khai để những người quan tâm đến vấn đề này có thể bày tỏ ý kiến, giúp cho việc đánh giá và giải quyết vấn đề được thấu đáo.
Xin gửi Bộ trưởng lời chào trân trọng.
Nguyễn Quang A
( Nguồn: http://www.bauxitevietnam.info )