Đăng bởi: leminhtam | Tháng Hai 6, 2010

Phóng viên thời bình, khó thay

Người ta thường nghĩ phóng viên thời chiến, phóng viên chiến tranh là những người gian khổ nhất. Bởi họ có thể mất mạng bất cứ lúc nào vì bom rơi đạn lạc (như cô Dương Thị Xuân Quý vấp phải lựu đạn do địch cài trên đường đi công tác), họ có thể rơi vào tay kẻ thù và bị bắn chết (như cô Lê Kim Phương không quen đi cầu khỉ ở vùng Nam Bộ nên đã bị tụt lại sau, bị địch bắt và bị bắn chết),… Thế nhưng thực tế cho thấy, phóng viên thời bình cũng gian khổ chẳng kém cạnh gì, nếu họ là những nhà báo theo đúng nghĩa nhà báo.

Năm vừa qua và cho đến hôm nay, mặc dù trong thời bình, chúng ta đã chứng kiến cảnh nhà báo bị đánh máu me bê bết; nhà báo bị khởi tố bắt giam ngồi tù; nhà báo có chồng là phi công bị rơi máy bay đúng vào dịp kỷ niệm “ngày nhà báo VN 21/6″; nhà báo bị buộc thôi việc, bị đóng cửa blog riêng của mình; nhà báo bị ném bom bẩn; hàng loạt TBT bị cách chức;… Khổ vô cùng. Nhưng khổ vậy, họ vẫn làm báo.

Tôi xin trích một đọan nhỏ trong cuốn hồi ký của mẹ tôi – một phóng viên, đọan lý giải “vì sao má viết hồi ký?” để các bạn hiểu là chúng tôi được lớn lên trong vòng tay “các nhà báo”, đó chính là các bà mẹ – phóng viên của chúng tôi và chúng tôi yêu các nhà báo đến nhường nào. Hồi ấy Tòa sọan báo không chỉ là nơi chúng tôi lui tới để chui vào lòng mẹ mình vòi vĩnh khi đói ăn, khi sợ hãi mà đó còn là mái nhà  của chúng tôi, là sân chơi của chúng tôi, là  trường mầm non của chúng tôi, là nơi chúng tôi bị phạt nhốt vào hầm đựng báo mỗi khi có lỗi hay hư hỗn với người lớn,… Báo và các bài viết do bạn đọc gửi tới không chỉ là quyển sách vỡ lòng đầu tiên để chúng tôi tập đánh vần mà còn là đồ chơi để chúng tôi gấp thuyền, gấp máy bay, là đồ giải trí khi bị nhốt phạt để qua khỏi cơn sợ hãi,… sau này còn trở thành nghề nghiệp của một số người (thí dụ Trần Thanh Bình con cô Thành Tín trong bài “Vì sao tôi yêu nghề làm báo” mà tôi đã đăng ở trang Trại nhi đồng của tôi, như bé Ly, Minh Hạnh, Việt Hoa,…). Chúng tôi đã ấp ủ, mang trong tim mình những lá thư từ chiến trường do các “phóng viên – người mẹ” của mình gửi tới bất kỳ nơi nào có con của họ đang học, đang làm việc hoặc đang chiến đấu dù đó là ở nơi lạnh giá nhất, xa xôi nhất, hoang mạc nhất hoặc gian khổ và ác liệt nhất (thí dụ: những lá thư mà cô Lê Kim Phương đã gửi cho Như Anh, Như Hà khi các bạn đang học tập ở LX cũ mà tôi cũng đã đăng trong trang Trại nhi đồng của tôi). Tôi có thể nói một cách rất thật, không phải thấy “người sang bắt quàng làm họ” một tý nào, các nhà báo có tiếng tăm hiện nay như Nguyễn Công Khế, Ngô Thị Kim Cúc,… đã cùng mẹ tôi và tôi nấu ăn, đi chợ, đi thăm thành phố Sài Gòn,… họ là những thanh niên miền Nam đầu tiên mà tôi được tiếp xúc, dẫn dắt tôi đi thăm phố phường Sài Gòn sau ngày giải phóng. Còn các cô TBT như cô Ngọc Nghi, cô Thanh Hương, cô Lan Anh có những mối tình như thế nào thì bọn trẻ con trong tòa sọan như chúng tôi đều nắm vững (thí dụ: tôi đã kể cho các bạn nghe trong trang Trại Nhi đồng của tôi là tôi đã nhìn thấy chú Bảo đi xe đạp mang áo mưa đến tòa sọan cho cô Lan Anh và chòang áo mưa cho cô, hình ảnh hai người đẹp như thế nào, làm tôi đang lội nước trời mưa – một niềm thích thú nhất của bọn trẻ “nhà báo” bấy giờ, cũng  phải đứng ngây ra nhìn và nhớ mãi. Thế mà chỉ mầy năm sau chú hy sinh ở cầu Hàm Rồng).    

“Má công tác ở ngành báo chí luôn phải đi công tác xa. Khi có chiến tranh phá hoại địch đánh nơi nào cũng phải đến, phải trực chiến tại Thủ đô Hà Nội. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Má khăn gói lên đư­ờng đi vào Nam để viết. Rồi tiếp quản thành phố Sài Gòn, phụ trách Phòng thường trú Báo Phụ nữ tại thành  phố. Má sống tại thành phố Hồ Chí Minh, công tác, lo cho các  con ăn học như­ thế nào, đó là những trang hồi ký Má ghi lại  ở  đây, chắc  chắn  không thể nào ghi hết đư­ợc. Các  con sẽ  cố gắng đọc để hiểu đ­ược một phần cuộc đời Má từ  một thiếu nữ nhút nhát con nhà khá giả, một học sinh ch­ưa đến tuổi vào đời đã có thể chịu đựng đ­ược những gian khổ ác liệt của cuộc chiến tranh và nuôi con khôn lớn trư­ởng thành. Công việc của Má là một công việc bình thư­ờng như­ mọi ngư­ời cán bộ khác cùng tham gia kháng chiến khác như­ Má, như­ng mỗi ngư­ời một cảnh khác nhau, gian khổ  cũng  khác  nhau, ác liệt cũng khác nhau nên kỷ niệm sống cũng khác nhau. Hồi ký của Má chủ yếu là những chuyện gia đình, chuyện của từng đứa con  khi còn nhỏ. Má nhắc lại  để các con thêm yêu Ba Má, thêm yêu thư­ơng yêu nhau bởi vì trong khó khãn gian khổ chúng mình đã có một gia đinh êm ấm, s­ướng khổ có nhau”.

Cài trang Trại Nhi đồng của tôi vào WordPress.com cũng chính là tôi muốn trang này được sống trong vòng tay (hay còn gọi là môi trường) của các nhà báo thế giới, muốn các bạn biết về sự dũng cảm và sự hy sinh của họ trong cuộc chiến đấu vì chân lý, vì cuộc sống hạnh phúc và yên ổn của con người. “Theo Ủy ban bảo vệ nhà báo, số nhà báo bị sát hại trong năm 2009 đã lên đến con số kỷ lục: 68 người, trong đó có 31 người trong vụ thảm sát con tin ở Philippines. Trước đó, năm có nhiều nhà báo bị sát hại nhất là 2007, khi có đến 67 nhà báo hoặc bị mưu sát hoặc bị chết trong cuộc chiến tại Iraq. Năm 2008, số nhà báo bị thiệt mạng là 42 người”

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=354180&ChannelID=2

Chép một đọan nữa trong bài “Cùng tuổi 20″ mà tôi đã viết cho Báo PNVN nhân dịp kỷ niệm ngày Nhà báo VN cách đây 5 năm (năm 2005) để các bạn thấy rõ mặc dù biết con đường đi phía trước là nguy hiểm nhưng các “PV – người mẹ” của chúng tôi vẫn tiếp tục đi. Người còn sống chỉ cho các con biết mẹ của họ đã mất ở nơi nao. Bài hát “bao đêm ngày tôi đi kiếm tìm quanh, nơi nao người tôi yêu nấm mồ xanh, lang thang tìm không thấy tôi đi cho đến bao giờ, chín suối hay chăng…” chính là hình ảnh của Như Anh, Như Hà, Lê Trực, Lê Hương, bé Ly,… đi tìm nấm mồ của mẹ mình sau chiến tranh. Chính là hình ảnh cô Trình và em Phương đi tìm nấm mồ của chồng, của bố mình; chính là hình ảnh của cô An và em Liên đi tìm nấm mồ của con trai, của anh trai mình mà cho đến giờ họ vẫn chưa tìm thấy. Có rơi nước mắt không khi nhìn tấm hình cô Trình ôm tấm bia mộ của một liệt sĩ cũng hy sinh ở Quảng Ngãi, cùng năm, cùng tên giống chú (không có quê quán, không ghi thân thế sự nghiệp) mà không thể biết rõ đó có phải là chồng mình hay không? 

Còn mẹ Như Anh thì đã hy sinh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cô vào Nam từ năm 1967 để chuẩn bị viết về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Sau này, mẹ tôi cũng được điều động vào Nam tháng 1/1975 trong đợt Báo PNVN đưa các phóng viên của mình vào để chuẩn bị viết bài cho chiến dịch năm 1975. Mẹ tôi đi vào chính con đường mà mẹ Như Anh đã đi. Đây là con đường nằm trong vùng rất ác liệt, đêm “giải phóng”, ngày “cộng hòa”, nên tối đi còn ngày nghỉ, lúc trời tối không rõ mặt người nữa thì có người mang thúng cơm nắm để lên đường cho cán bộ ăn nhưng không hề lộ mặt. Phải có tới 13 giao liên cùng với hai bộ đàm đi trước và đi sau để bảo vệ cho 3 phóng viên từ Bắc vô (má tôi, cô Hà Nhung và một chú ở Báo QĐ). Trên con đường này từng có cô Lê Thị Đoan (mẹ của Lê Trực và bé Hương), cô Lê Mai – là những phóng viên của Báo PNVN đã hy sinh trước má Như Anh. Nó ác liệt bởi đó là con đường từ Trung ương cục Miền Nam vào Khu 8. Mẹ tôi đã đến thăm nơi mẹ Như Anh bị giặc bắn là chợ Ông Tranh ở Mỹ Tho. Trên đường vào Nam này còn có cô Dương Thị Xuân Quý (mẹ của bé Ly) cũng đã ngã xuống ở Duy Xuyên (Quảng Nam). Sau này chồng cô đã viết cả một bài thơ về “Hạnh phúc” với câu mở đầu bài thơ này:

“Thôi em nằm lại, với đất lành Duy Xuyên. Trên mồ em có mùa Xuân ở mãi, trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên”

Má tôi kể lại, má Như Anh hy sinh trong một trận càn, giặc đuổi theo, cô bị rớt lại sau cùng vì cô hơi mập lại lâu ngày xa quê hương không quen đi cầu khỉ nên phải bò trên cầu. Giặc bắt được trói cô vào một gốc cây, cô mắng bọn chúng, nghe giọng chúng biết cô từ Bắc vô. Tên chỉ huy muốn giữ cô để khai tiếp nhưng cô mắng chúng liên tiếp làm chúng điên tiết bắn cô luôn. Hôm sau bà con nơi cô công tác đi ra chợ, theo lời bọn lính kháo nhau mới biết tin cô đã bị bắn. Ngay buổi tối hôm đó họ bò ra đưa xác cô về và chôn cô trong một bao nilông (thường dùng để bọc xác lính Mỹ tử trận). Cho tới khi Như Anh về nước, đi tìm mộ mẹ và thấy xác mẹ vẫn còn nguyên như mới vừa được đem chôn. Trên trán mẹ, nơi vết thương do giặc bắn đã được bà con quàng lên trên một chiếc khăn rằn đặc trưng của phụ nữ Nam Bộ và vết máu trên miệng mẹ vẫn còn nguyên“. 

Tôi đã viêt bài này trong một lần mẹ tôi ra HN thăm tôi, hai mẹ con đến thăm cô Thanh Hương. Mẹ tôi kể, tôi ghi lại, cô Thanh Hương và tôi cùng nhớ lại bài thơ “Hạnh phúc” (mà tôi đã mang theo trong suốt 6 năm học đằng đẵng ở nước ngòai, sau đó bị một bạn khác cùng quê lấy trộm mất), cô chỉnh trang lại từng câu, từng chữ cho chính xác vì bài đó tôi chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của mình. Cô Thanh Hương muốn mượn cuốn Nhật ký chiến trường mà mẹ tôi đã ghi lại về chuyến đi vượt Trường Sơn của mình. Cô nói “các cháu phải hết sức trân trọng giữ gìn những trang nhật ký đó, vì đó là tư liệu rất quý”. Cô đúng là cô TBT và đúng là vợ của một nhà văn nổi tiếng – chú Vũ Tú Nam, nguyên CT HNV ngày nào.

(Còn nữa)

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Một 30, 2010

Một bài thơ của bố bé Ly

MẨU CHUYỆN NHỎ VỀ NHÂN DÂN VĨ ĐẠI
Bùi Minh Quốc
 
 

LTNc: Năm nay đã quá tuổi 70, có thể nói cả cuộc đời Bùi Minh Quốc tình nguyện làm một nhà thơ dấn thân. Ông là một trường hợp đặc biệt, khi còn ngồi ghế giảng đường thì bài thơ “Lên Miền Tây” của ông đã được đưa vào sách giáo khoa: “Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy/ Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường/ Sống ở Thủ đô mà dạ để mười phương/ Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn”. Không chỉ ca ngợi cách mạng bằng vần điệu chảy bỏng, Bùi Minh Quốc đứng vào hàng ngũ của bao nhiêu văn nghệ sĩ bước vào khói lửa chiến trường với ý chí giữ nước cao cả và thiêng liêng. Thời gian gần đây, Bùi Minh Quốc ít có điều kiện trực tiếp tham gia những hoạt động văn chương, nhưng nếu chúng ta thờ ơ với ông thì thực sự làm xót xa thêm những câu thơ ông đã viết: “Có khi nào trên đường đời tấp nập/ Ta vô tình đi lướt qua nhau/ Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất/ Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu”. Vì vậy, lethieunhon.com mời bạn đọc cùng chia sẻ với nhà thơ Bùi Minh Quốc phút giây “rất lâu, tôi ngồi im nhìn ngọn lửa bập bùng” 40 năm trước.
  
    Mẹ vẫn đuổi con sao?
    Mẹ vẫn đuổi con sao?
    Tôi ngồi vật xuống bậc thềm sũng nước
    Điều cay đắng dẫu đã thầm tính trước
    Vẫn không ngăn nổi uất nghẹn trong lòng.
   
    Đêm mênh mông. Mưa xối mặt ròng ròng
    Tôi nín thở, lắng từng giây khùng khiếp
    Tiếng mẹ tắt bao giờ? Sau cánh liếp
    Mẹ đang nghĩ gì, mẹ ơi?
   
    Cuộc chiến đấu gay go – tôi đã biết rồi
    Nhưng thử thách này thật là khốc liệt
    Cả chi bộ hy sinh gần hết
    Một số quay ra phản bội đầu hàng
 
    Và đêm nay tôi bám trở lại làng
    Đến gõ cửa bà mẹ già tin cậy nhất
    Một tiếng đáp từ trong nhà lạnh ngắt:
    -“Sao ông chưa lên quận chiêu hồi?”
 
    Đêm trôi mau.Trên thềm ướt tôi ngồi
    Xót xa và kiên nhẫn
    Chợt nghe giọng bà mẹ già tức giận:
    -“Sao chưa đi đi, còn ở đó chi hoài?”
 
    Tôi hân hoan trút nhẹ tiếng thở dài
   -“Thì xin mẹ cứ mở giùm cánh cửa
    Cho con vô, con hơ quàng chút lửa
    Rồi sẽ lại đi thôi…”
   
    Có tiếng gì như tiếng nấc xa xôi
    Không, tiếng mẹ – giọng nén nhiều nước mắt
-“Thôi, vô đây…”
                             Sau ngọn đèn gió hắt
    Một mái đầu tóc bạc rung rung
   
    Rất lâu, tôi ngồi im nhìn ngọn lửa bập bùng
    Lòng rối bời trăm mối
    Căn nhà nhỏ chập chờn sáng tối
    Gà đã gáy sang canh
    Đồn bót quân thù dày đặc xung quanh
    Tôi cũng chẳng cần để ý.
    Bà mẹ nói, xót xa và nghiêm nghị:
    -“Chúng nó đầu hàng, còn mày nữa, có đi không?”
   
    Mưa vẫn miên man.Gió vật vã trên đồng
    Những giọt mưa quất rào rào phên liếp.
    Tôi chưa kịp đáp lời, mẹ già thong thả tiếp:
    -“Nói thì nói vầy, chớ mày cứ ở đây
    Tao lại nuôi – như vẫn thế xưa rày
    Mà cho dầu mai mốt
    Chịu không nổi, mày đi đầu hàng nốt
    Thì lũ tao đây, cách mạng vẫn làm hoài…”
 
    Vậy đó, mẹ tôi
    Với bao gian truân nếm trải một đời
    Mẹ biết rõ những gì không thể mất
    Và chính lúc tưởng chừng đen tối nhất
    Ngọn lửa của lòng tin lại sáng lạ lùng
 
    Ôi nhân dân nguồn sức mạnh không cùng
    Con gắn bó với Người sống chết
    Mọi thứ kẻ thù chúng ta tiêu diệt hết
    Và sắp đặt cuộc đời theo ý muốn của ta.
 
    Rừng Trà My 31-12-1971
Ghi chú: Bài thơ này được in lần đầu tiên vào năm 1985 trong đặc san chào mừng đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng.
 
Nguồn: lethieunhon.com
 
Ngày xửa ngày xưa, khi chú Bùi Minh Quốc và cô Dương Thị Xuân Quý chưa sinh ra bé Ly, chú đã viết quyển “Cây phi lao bé của bé Ly”  do NXB Kim Đồng xuất bản mà rất nhiều bạn đã đọc. Chú đã viết bài thơ nổi tiếng “Hạnh phúc” về cô sau khi cô đã hy sinh ở huyện Duy Xuyên (tỉnh Quảng Nam) trên đường vào Nam viết bài, với câu thơ mở đầu:

“Thôi em nằm lại

Với đất lành Duy Xuyên

Trên mồ em có mùa Xuân ở mãi

Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên” 

Cô Xuân Quý cũng đã từng là “chị phụ trách thiếu nhi” ở xóm 47 Hàng Chuối của một số bạn ngày xưa. Nhớ có lần cô dạy bài

“Em hay múa em hay hát

Khi ba má đi công tác,…”

Các bạn lại cứ gào to lên “Em hay mếu em hay khóc/Khi ba má đi công tác,…” làm cô cứ rơm rớm nước mắt.

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Một 19, 2010

Vì tôi là người VN nên tôi sẽ luôn tự hỏi

TRUNG QUỐC LÀ GÌ CỦA VIỆT NAM ?
Giáp Văn Dương
 Trong lòng chúng ta đã từng có Trung Quốc do công lao vun đắp của Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Trung Quốc đã từng là tình yêu của nhiều người VN khi ta thấy bố mẹ họ đặt cho con mình những cái tên như “Trung Việt”, “Việt Trung”, “Việt Hoa”, “Hoa Việt”,… thậm chí tên một nhà sử học nổi tiếng của VN là “Dương Trung Quốc”. Tình yêu đó còn được thể hiện qua các bài ca “VN - Trung Hoa núi liền núi, sông liền sông, chung một Biển Đông…”, “Anh em chúng ta kết liền thành một khối, trong gian khó vai cùng kề sát vai,…”. Có người phụ nữ kêu với tôi: “Trời ơi, trước 75, ở Sài Gòn tôi theo cách mạng nên mới lấy ông Tàu, thế mà bây giờ…” (chồng bà đã mất rồi). Không phải ai cũng hiểu hết tâm trạng của bà. Mẹ tôi vẫn kể về một chú đồng nghiệp yêu thiết tha một cô gái TQ thời chú đi học bên đó mà không lấy được cô,… Tôi vẫn nhớ gia đình hàng xóm của bác tôi là một gia đình kinh doanh kem ở ngay Bờ Hồ Hòan Kiếm, họ rất thân thiện. Tôi thấy xót xa vì TQ đã không giữ được tình yêu này nữa. Nếu là người TQ tôi sẽ luôn tự hỏi, vì sao cho đến giờ ở VN vẫn chưa có một Cung hữu nghị Việt – Trung? Tại sao trước đây khi hữu hảo nhất cũng không có (có phải VN là nước có truyền thống vô ơn không? cái thuyết phải “dạy cho VN một bài học” của Đặng Tiểu Bình có đúng đối với dân tộc VN không? giả sử VN-TQ thực sự có được 60 năm “láng giềng tốt” vừa qua, liệu có thể làm cho dân tộc VN dễ dàng quên được cả nghìn năm đô hộ không, nữa là…), mà nếu cái cung hữu nghị đó ra đời vào giờ khắc này thì lại càng mang tính áp đặt và khiên cưỡng nhất, không một người VN nào vui vẻ đón nhận cả, nhất là thế hệ trẻ. Vì sao vậy? Còn tôi là người VN nên tôi cũng luôn đặt ra câu hỏi như tác giả Giáp Văn Dương dưới đây: “Trung Quốc là gì của Việt Nam?”. Nếu là một người thầy thì người thầy không bao giờ tìm cách chiếm nhà, chiếm đất của trò mình, cũng không bao giờ tìm cách giết trò mình và con cái của họ. Người thầy bao giờ cũng cho trò lời khuyên đúng chỗ, luôn hỗ trợ và che trở cho trò khi trò còn yếu, còn chưa đủ mạnh, khi trò bị người khác bắt nạt. Nếu là người thầy thì mỗi thành đạt của trò đều là niềm kiêu hãnh của thầy, mỗi thành quả của trò đều chứa đựng công thầy. Sự thành công của trò chính là sự thành công của thày. Trò là chỗ dựa của thày khi về già, khi đau yếu, khi thất thế. Thế nhưng thực tế có vậy không? Mỗi sự lớn mạnh của VN đều mang lại sự bực bội và tức giận cho TQ là vì sao? TQ có thấy rằng cách hành xử như vậy mang lại chính thiệt thòi cho TQ sao? Nếu là người TQ tôi sẽ luôn đặt ra những câu hỏi như vậy. Nhưng tôi là người VN, vì vậy tôi luôn tự hỏi:  
 
Trung Quốc là gì của Việt Nam?
 
“Từ xưa đến nay, quan hệ Việt-Trung luôn phức tạp. Để có chiến lược ứng xử thích hợp, đã đến lúc phải thẳng thắn trả lời câu hỏi: Trung Quốc là gì của Việt Nam?
 
Định vị lại Trung Quốc
 
Khi xem xét chiến lược ứng xử với Trung Quốc, có ý kiến cho rằng, với Việt Nam, Trung Quốc đồng thời là: người thầy vĩ đại, người bạn thân thiết và đối thủ nguy hiểm. Nhìn vào lịch sử quan hệ và những ảnh hưởng qua lại giữa hai nước, thì thấy rằng Trung Quốc đã từng đóng tất cả các vai ấy trong mối quan hệ thăng trầm với Việt Nam.
Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay, nếu coi đây là xuất phát điểm cho chiến lược ứng xử với Trung Quốc thì cần phải xem xét lại. Nếu coi Trung Quốc là người thầy vĩ đại, thì sẽ  có xu hướng bắt chước thầy, chịu sự chỉ  dẫn của thầy với tư cách học trò. Khi xảy ra tranh chấp, điều đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử, thì trò khó lòng có thể thắng được thầy.
Còn nếu coi Trung Quốc vừa là người bạn thân thiết, vừa là đối thủ nguy hiểm thì lại tự mâu thuẫn nhau. Đã là bạn thì không thể là kẻ thù, vì cơ sở của tình bạn là sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Còn đã coi nhau là kẻ thù thì không thể là bạn.
Nếu coi Trung Quốc vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là đối thủ của Việt Nam, tất yếu dẫn đến những lúng túng và yếu thế trong chiến lược ứng xử với Trung Quốc. Nói cách khác là gây ra bối rối ngay từ khâu lên kế hoạch, nên thua thiệt là điều khó tránh khỏi.
Một nhận định khác cũng thường được nói đến nhiều: Trung Quốc và Việt Nam là anh em “môi hở răng lạnh”. Việc tự coi mình là em đã đặt Việt Nam vào thế bất lợi toàn diện trong quan hệ với Trung Quốc, tất yếu sẽ rất đến những thua thiệt trong ngoại giao, trao đổi văn hóa, thương mại, thậm chí cả trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp của đất nước, v.v.
Vậy Trung Quốc là gì của Việt Nam?
 
Đối tác bình đẳng
Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết rằng:
 
“Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.”
Qua đó có  thể thấy, Nguyễn Trãi không coi Trung Quốc là thầy, bạn, hay kẻ thù hoặc kết hợp của cả ba thứ này. Nguyễn Trãi cũng không coi Trung Quốc là anh em với Việt Nam. Ông chủ trương Trung Quốc là một đối tác độc lập, bình đẳng trong quan hệ với Việt Nam về mọi mặt.
Đây là chiến lược sáng suốt của Nguyễn Trãi, dù ra đời đã gần 600 năm. Chủ trương này vẫn còn là kim chỉ nam cho chiến lược ứng xử với Trung Quốc ngày nay, không chỉ trong quan hệ ngoại giao, mà còn cả trong trao đổi văn hóa, thương mại, v.v.
Trong ngoại giao, việc xác định Trung Quốc là đối tác bình đẳng sẽ giúp định ra các chính sách và thái độ ngoại đúng đắn, góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đất nước, nhất là khi tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có những diễn biến phức tạp.
Trong văn hóa, việc coi Trung Quốc là đối tác chứ không phải là người thầy, bạn bè, đối thủ hay bậc đàn anh sẽ giúp Việt Nam giữ được bản sắc văn hóa của mình trong khi vẫn sàng lọc được những điều hay cần học hỏi.
Trong mậu dịch, Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc: cán cân thương mại Trung Quốc-Việt Nam đang có những mất cân đối nghiêm trọng. Nhập siêu từ Trung Quốc đang ở mức đáng lo ngại và tăng liên tục: ước tính khoảng 11 tỷ USD năm 2008, so với 200 triệu USD năm 2001. Cơ cấu mậu dịch cho thấy Việt Nam chủ yếu xuất khẩu tài nguyên và sản phẩm thô, ước tính khoảng 80% tổng giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc, trong khi nhập về chủ yếu hàng công nghiệp. Do đó cần phải có chiến lược điều chỉnh thích hợp, phấn đấu đưa Trung Quốc trở thành đối tác thương mại ngang hàng với Việt Nam.
Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện từ xuất phát điểm: coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em của Việt Nam.
Việc coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng còn giúp Việt Nam tận dụng được sức mạnh của hệ thống pháp lý và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Vì một lẽ đơn giản, tất cả các nước đều bình đẳng trước các cam kết và hệ thống pháp lý quốc tế. Và cộng đồng thế giới ủng hộ sự bình đẳng này.
Do đó, Việt Nam cần phải nương vào nguyên tắc bình đẳng và sự hỗ trợ này để vươn lên vị trí bình đẳng toàn diện trong quan hệ với Trung Quốc.
Bước vào thập kỉ mới – thập kỉ bản lề ẩn chứa nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển của Việt Nam, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc – câu hỏi Trung Quốc là gì của Việt Nam cần phải được trả lời dứt khoát: Trung Quốc là đối tác bình đẳng với Việt Nam trên mọi lĩnh vực, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em như nhiều người đã và đang nghĩ”.
(Giáp Văn Dương)
 
Tài liệu tham khảo
[1] “Trung Quốc là gì của Việt Nam?”
 
[2] “Bác Hồ đã cám ơn quân đội Trung Quốc”
 
 
[3] “Hòang Sa – Tường trình 35 năm sau: 30 phút và 35 năm sau”

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=336724&ChannelID=89 

http://anhbasam.com/2010/01/19/439-cu%e1%bb%99c-xam-lang-hoang-sa-c%e1%bb%a7a-quan-trung-qu%e1%bb%91c-1974/

[4] “Hội nghị quốc tế về Biển Đông 2009″. Bản đồ Trung quốc vẽ năm 1910 thời Nhà Thanh không có quần đảo TS-HS
[5] “Tưởng niệm những người con Việt Nam đã bị hải quân TQ giết hại năm 1988″
[6] “Tưởng nhớ 64 anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì chủ quyền đảo Trường Sa của Tổ Quốc”
[7] “Ký thỏa thuận hợp tác thanh niên VN-TQ”. Có phải cứ ký thỏa thuận hợp tác thế này là thanh niên VN yêu TQ đâu? Thanh niên ngày nay đâu có ấu trĩ và ngây thơ thế. Đừng diễn trò nữa mà nên đi vào thực chất vấn đề: Trả lại Hòang Sa cho VN. Không được bắn giết ngư dân VN. Không được ngấm ngầm can thiệp vào tổ chức Nhà nước của VN, các phương tiện thông tin đại chúng của VN. Không được ngấm ngầm hãm hại những người con ưu tú và các phỏng viên của Việt Nam. Đó mới là thực chất của vấn đề.
[8] “Biển đảo và lòng yêu nước của sinh viên” 

[9] “Xây xong đèn biển Trường Sa lớn”

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=359759&ChannelID=3

[10] “Khai thác chung Biển Đông và những nguyên tắc công bằng”

http://www.baomoi.com/Home/DoiNoi-DoiNgoai/tuanvietnam.net/Khai-thac-chung-Bien-Dong-va-nhung-nguyen-tac-cong-bang/3776403.epi

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Một 10, 2010

Bài thơ của những oan hồn trên Biển Đông

Kính thưa những người còn sống,

CHÚNG TÔI ĐÃ CHẾT

Tôi tên là Nguyễn Văn Tâm, tôi bị bắn trúng ngực, tôi bị bắn trúng tim
Tôi chết ngay lúc đó
Tôi chết mà không kịp hiểu vì sao

Tôi tên là Dũng
Chúng bắn trúng lưng
Tôi trượt chân ngã xuống biển
Máu tôi chảy suốt nửa giờ
Biển lạnh và tối
Tôi kiệt sức rồi chìm xuống

Tên tôi là Hồng
Tôi trúng đạn vào mắt trái
Trổ ra sau gáy
Con ngươi rớt ra ướt lầy nhầy trên bàn tay tôi bụm
Con ngươi thấy lửa loé ra từ nhiều họng súng

Tôi là Đinh Văn Đông
Tôi trúng đạn nhiều lần
Vào chân vào bụng vào ngực vào vai vào hàm
Ruột tôi đổ ra trên sàn tàu
Tôi thở thoi thóp rồi tôi la thét rồi tôi giãy giụa
Tôi chưa chết lúc đó
Tôi nghe tiếng sóng tiếng gió tiếng loa
Nhỏ dần
Rồi im bặt

Thưa mọi người tôi là Nguyễn Hữu Biên
Đạn chúng bắn xé nát cổ tôi
Đạn chúng bắn cắt đứt đầu tôi khỏi thân người

Nguyễn Xuân Trọng là tôi
Đầu tôi va vào bánh lái
Tôi níu lấy sợi thừng
Tôi thấy anh em mình bị tàn sát

Tôi thấy anh em mình la khóc và bị săn giết như những con vật
Máu của Đông bắn lên ướt mặt tôi
Máu nóng và tanh
Tôi không biết lúc nào tôi chết

Tôi tên Tùng
Nguyễn Văn Tùng
Chúng tấn công khi tôi đang ăn cơm
Chén cơm của tôi có cá khô, nước mắm, và rau
Chén cơm úp vào mặt tôi
Mắt tôi không thấy gì nữa
Tôi bị đạn cắt lưỡi
Tôi thấy óc mình nóng ướt dính bệt bên màng tang
Óc trộn lẫn với cơm

Còn tôi là Lê Văn Xuyên
Tôi là thuyền trưởng
Chúng tôi ở tỉnh Thanh Hóa
Chúng tôi treo cờ Tổ quốc và tuân thủ mọi quy định của pháp luật
khi hoạt động ngoài khơi
Chúng tôi không phải là cướp biển
Chúng tôi bắt cá ngoài biển khơi

Kính thưa những người còn sống
Chúng tôi đã chết!”

(Nguồn: lấy từ blog khác)

Tài liệu tham khảo

[1] “7 ngư dân cùng tàu đánh bắt xa bờ mất tích”

http://www.tin247.com/7_ngu_dan_cung_tau_danh_bat_xa_bo_mat_tich-1-21319884.html

[2] “8 tàu cá lớn bị chìm, 18 người chết và mất tích” 

http://www.tin247.com/kien_giang_8_tau_ca_lon_bi_chim%2C_18_nguoi_chet_va_mat_tich-1-21308052.html

http://www.tin247.com/tau_la_dam_chim_tau_danh_ca%2C_mot_nguoi_mat_tich-1-21224571.html

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Một 7, 2010

Một bài thơ hay

“Truyền thuyết kể
Gióng đánh giặc khi mới lên ba
Có dân tộc nào nhọc nhằn hơn thế?
Có nơi đâu
Lịch sử ngập chìm dâu bể
3.000 năm chưa hết giặc trước hiên nhà?

Định mệnh thét gào lịch sử bão giông
Ta giữ nước nhiều gấp bội phần
Thời gian dựng nước
Cho mãi đến hôm nay vẫn chưa thể nào có được
Bởi hạnh phúc
Cũng trông chừng sau, trước
“Nửa cái hôn phải tỉnh thức ngó quân thù” (*)

Lịch sử nhắc hoài câu chuyện Mẹ Âu Cơ
Sao ta phải lên rừng, xuống biển?
Kẻ cướp trên núi cao, dưới sóng ngầm hung hiểm
Bao năm thâm độc rình mò…

Chúng muốn ta quỳ – mỏi gối xin, cho
Để Hoàng Sa, Trường Sa máu cuộn cùng nước mắt
Để nỗi đau hóa lặng câm giữa hai hàm răng nghiến chặt
Để xa xót tủi hờn nhức mãi tâm can…

Không!
Lịch sử nói rằng sóng nước Bạch Đằng Giang
Rừng Chi Lăng, cửa Chương Dương, Hàm Tử…
Xác giặc chất chồng, bạo tàn mục rữa
Việt Nam ơi, không nhát sợ bao giờ!

Chúng nói rằng có cốt khư (**) người Trung Quốc ở Hoàng Sa
Sao không đến gò Đống Đa để bới thêm, nhiều lắm?
Thanh Triều ư? Bụi ác tàn ngàn dặm
Bão Tây Sơn quét sạch, một tuần!

Định mệnh nhắc ta rằng Đất Việt gian truân
Nhưng chữ S chẳng thể nào gục gãy
Người trước ngã, người sau đứng dậy
Cối Kê ư? “Hoan Diễn do tồn”.

Lịch sử dạy ta rằng đảo, sóng Biển Đông
Là máu thịt của giang sơn tổ quốc
Là một nửa của hồn thiêng Đất – Nước
Chẳng thể đem cho, đem bán vật vờ!

Ta hiểu cuộc đời không phải giấc mơ
Nên trang sách phải tựa mình bên giá súng
Định mệnh bắt đầu bằng linh danh Phù Đổng
Tuổi thơ giữ nước quên mình

Định mệnh cảnh báo rằng
Nhẹ dạ Mỵ Châu ơi
Một phút buông trôi
Ngàn năm không xóa nổi
“Tình” Ải Bắc
Là khôn lường gian dối
Lông ngỗng bay
Trắng bợt chữ “NGỜ”?

Định mệnh nhắc em rằng
Xin hãy đừng quên
Sống với nguy nan
Là bổn phận của muôn vàn con dân Việt
Đất nước hôm nay được sinh thành từ da diết:
Thà làm ma nước Nam!
Thà cả Trường Sơn cháy hết!
Chẳng cam tâm quỳ xuống, bao giờ”.

(Huế, 22.12.2009. Hà Văn Thịnh)

Ghi chú: (*) Thơ Chế Lan Viên
                  (**) Tàn tích xương người chết

Tài liệu tham khảo

(Về phát triển kinh tế không thể tách rời giải quyết tranh chấp Biển Đông)

[1] “Chờ điều kiện chín muồi giải quyết tranh chấp Biển Đông”

http://vietnamnet.vn/chinhtri/201001/Cho-dieu-kien-chin-muoi-giai-quyet-tranh-chap-bien-Dong-888092/

[2] “Trung Quốc cần chấp dứt ngay việc phát triển du lịch tại Hòang Sa”

http://www.laodong.com.vn/Home/Trung-Quoc-can-cham-dut-ngay-viec-phat-trien-du-lich-tai-Hoang-Sa/20101/169361.laodong

[3] “TQ gia tăng áp lực kiểm sóat Biển Đông”

http://infovietnam.wordpress.com/2010/01/02/trung-qu%e1%bb%91c-gia-tang-ap-l%e1%bb%b1c-ki%e1%bb%83m-soat-bi%e1%bb%83n-dong/

[4] Liên quan đến họat động khai thác dầu khí của VN tại Biển Đông, đại sứ VN trả lời báo giới TQ tại BK: “Khẳng định Hòang Sa- Trường Sa là của VN”

http://www.vnexpress.net/GL/The-gioi/2010/01/3BA178C6/

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/201002/20100109022437.aspx

[5] TQ ban hành “Luật bảo vệ hải đảo”. Ngay sau khi Luật bảo vệ hải đảo vừa được Quốc hội Trung Quốc thông qua, các tàu đánh cá nước này đã liên tục xâm phạm trái phép vùng biển Việt Nam những ngày đầu năm 2010.

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=357479&ChannelID=119

[6] “Đã liên lạc được với 11 ngư dân bị mất tích hơn 5 tháng”

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=182913&ChannelID=2

[7] “Thông điệp mở đầu năm hữu nghị Việt – Trung, những gáo nước lạnh”

http://anhbasam.com/2010/01/08/425-thong-di%e1%bb%87p-m%e1%bb%9f-d%e1%ba%a7u-nam-h%e1%bb%afu-ngh%e1%bb%8b-vi%e1%bb%87t-trungnh%e1%bb%afng-gao-n%c6%b0%e1%bb%9bc-l%e1%ba%a1nh-ng%e1%bb%95-ngao/

[8] “Vì sao VN không bao giờ hết kẻ thù?”. Bài này chỉ đúng một nửa, bởi từ hàng nghìn năm nay VN luôn phải “sớm tắm bão giông, chiều ngăn bom lửa” là do vị trí địa lý của mình. Cũng chính vì nằm trên vị trí “quá ngon” về thông thương và giàu tài nguyên nên VN cũng phải hứng chịu nhiều cuộc xâm lược của kẻ thù từ phương Bắc (Tàu, Nguyên Mông, Nhật), phương Tây (Pháp, Mỹ),… chứ không phải chỉ dưới sự lãnh đạo của ĐCS Việt Nam mới có lắm kẻ thù.

http://www.x-cafevn.org/node/2500

[10] “Ẩn ý sau 3 thông điệp của đại sứ TQ Tôn Quốc Tường”

http://trannhuong.com/news_detail/3468/“-ẨN-Ý”-SAU-“3-THÔNG-ĐIỆP”-CỦA-ĐẠI-SỨ-TRUNG-QUÔC-TÔN-QUỐC-TƯỜNG?

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Một 6, 2010

Bài viết từ lâu bây giờ mới thấy

Người cắm cờ trên đồi Him Lam – Trần oanh hay Nguyễn Hữu Oanh?

“Xuất phát từ tranh luận trên blog “Trại Nhi đồng của tôi” , xin cung cấp những thông tin mới nhất.
Cô Nguyễn Thị Thanh, cô giáo của 1 số lính Trỗi từng học ở Trại Nhi đồng Miền Bắc (đầu những năm 1960), xây dựng với chú Nguyễn Hữu Oanh – thương binh hỏng mắt, cụt 1 tay và mất mấy ngón của bàn tay còn lại. Chú vốn là lính Tiểu đòan Phủ Thông thuộc F312, đơn vị cắm cờ và bắt sống Tướng Đờ-cát tại mặt trận Điện Biên Phủ 7/5/1954. Tại Đại hội mừng công năm 1954, A trưởng xung kích Nguyễn Hữu Oanh được tuyên dương vì sự dũng cảm xông lên cắm lá cờ Quyết chiến Quyết thắng trên ngọn đồi Him Lam ngày 13/3/1954. (Sự kiện này được baó QĐND đăng tải trên số 131 ngày 20/7/1954).
Nhưng do sai sót mà trong cuốn “Lịch sử F312″ ghi tên người cắm cờ trên ngọn đồi Him Lam ngày 13/3/1954 là Trần Oanh. (Anh em ta nhiều người biết đến cái tên Trần Oanh là xạ thủ bắn súng thể thao quân sự!). Từ source này mà các tác phẩm của Tướng Lê Trọng Tấn (Sư truởng đầu tiên của F312) và của Đại tướng Văn cũng ghi như vậy.
Tất nhiên đây là nỗi đau của chú Nguyễn Hữu Oanh và gia đình, nỗi đau của lịch sử suốt 53 năm qua. Chú Oanh mất năm 2004, khi đi mang theo nỗi buồn đó.
Nửa thế kỷ đã trôi qua với 1 đất nước mà hơn 20 năm là chiến tranh, sau đó là thời bao cấp đói khổ…. Xin miễn đặt ra câu hỏi “Vì sao?”. Chúng ta chỉ nên dựa trên các luận chứng khoa học, cùng chứng cứ và nhân chứng lịch sử để sửa sai.
Khi đặt vấn đề này, Đại tá Hoàng Minh Phương, nguyên thư kí – phiên dịch cho bác Văn trong Chiến dịch Điện Biên Phủ cũng nói “nên làm và làm được”. Khi tôi đến Văn phòng Đại tướng đưa thư của cô Thanh thì cũng nhận đuợc ý kiến là sửa đuợc nhưng phải bắt đầu từ F312 và các nhân chứng sống của F312.
Lần ra HN vừa rồi, biết thủ trưởng của chú Nguyễn Hữu Oanh ngày ấy là Trung tuớng Trần Linh (sau này là Tư lệnh Bộ đội Biên phòng), nay là Trưởng Ban Liên lạc F312, đang nằm điều trị ở Viện Y học dân tộc Quân đội. Chúng tôi cùng Dũng (con trai chú Oanh) đến thăm chú Linh. Biết nguyện vọng của chúng tôi và gia đình, chú vui vẻ kể lại: Sau trận Him Lam, trong 1 trận đánh khác chú Oanh bị thương mù mắt, mất 1 bàn tay và mấy ngón của tay còn lại. Ngày hòa bình, chú về Trường Thương binh hỏng mắt ở đừơng Nguyễn Thái Học. Anh em trong đơn vị cùng cơ quan TW Hội LHPNVN (đơn vị kết nghĩa) đã tạo điều kiện đón cô Thanh ra HN và về làm việc ở Trại Nhi đồng Miền Bắc.
Về việc sửa sai tên người cắm cờ, chú Linh có nói: Để chuẩn bị cho kỷ niệm 55 năm Điện Biên Phủ (7/5/2009), Ban Liên lạc F312 (đích thân chú) đã kí văn bản với Thiếu tướng Lê Mã Lương – Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quân sự – về nội dung Sa bàn trận đánh đồi Him Lam ngày 13/3/1954. Tên chíên sĩ cắm cờ hôm đó được sửa lại là Nguyễn Hữu Oanh. Việc làm này là công bố chính thức mang tính quốc gia. Trước ngày hòan thành sa bàn, Ban Liên lạc F312 sẽ báo cáo Đại tướng.

Lịch sử đã được minh chứng. Cái gì của Ceza phải trả lại cho Ceza, nhưng nỗi đau này kéo dài lâu quá!!! Dù sao mọi việc cũng đã rõ ràng! Dưới suối vàng chú Nguyễn Hữu Oanh chắc đã yên lòng?”

Nguồn: http://vhqdnvt.blogspot.com/2007/11/ngi-cm-c-trn-i-him-lam-trn-oanh-hay.html

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Một 2, 2010

TOPTEN ẤN TƯỢNG VIỆT 2009

  1. Bauxite, phản đối ấn tượng nhất: Có lẽ trong lịch sử, chưa có một chủ trương lớn nào bị giới công thần, trí thức và dân chúng phản đối dữ dội như khai thác bauxite Tây Nguyên. Tuy không làm thay đổi và chặn đứng được, nhưng không phải là sự thất bại. Ngược lại, đó là một thành công lớn cho liều thuốc thử dán mác trí thức, là một cuộc tập dượt công khai cho những phản biện xã hội buộc Đảng và Chính phủ phải giật mình cảnh giác và cẩn trọng hơn trước những quyết sách lớn.

          2. Vụ kiện ồn ào nhất- kiện Thủ tướng: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ phát đơn kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vì cho rằng Thủ tướng ký quyết định “trái pháp luật” khi cho thực hiện các dự án khai thác bauxite Tây Nguyên. Đây là sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử, một công dân dám viết đơn kiện Thủ tướng.

          3. Câu nói “ấn tượng” nhất: “Hoàng Sa- Trường Sa là bãi hoang chim ỉa” (ông Ba Náo, nguyên Bí thư chi bộ, hiện là Chi ủy viên chi bộ cấp phường (TP HCM) phát biểu trong cuộc họp kiểm điểm nguyên Tổng biên tập báo Lao động Tống Văn Công).

          4. Hình ảnh phản cảm nhất: Bị cáo Thiếu tướng công an Trần Văn Thanh bị khiêng đến tòa trong tình trạng nằm thở o-xy, bất động trên băng ca để xét xử về tội “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

          5. Hình ảnh phẫn nộ nhất: Hải quân Trung Quốc đuổi bắt, cướp và bắn ngư dân Việt.

          6. Sự “đầu hàng” ấn tượng nhất: Nhóm trí thức thuộc Viện nghiên cứu phát triển IDS tuyên bố tự giải thể để phản đối quyết định 97/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

          7. Bài báo gây phẫn nộ nhất: Báo điện tử đảng Cộng sản Việt Nam đăng bài tường thuật các cuộc tập trận của Hải quân Trung Quốc trên vùng biển Đông, quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, như thể thừa nhận đó là biển trời của… Trung Quốc!

          8. Phát biểu khôi hài nhất: “Hơn 3 năm làm Thủ tướng tôi chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào” (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận trước Quốc hội rằng suốt 3 năm đương quyền ông không kỷ luật bất kỳ ai, và còn bảo rằng mình phải học tập cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, vị Thủ tướng cầm quyền lâu nhất, khi trong suốt 33 năm Thủ tướng Đồng cũng không hề kỷ luật một đồng chí nào).

          9. Chiến lược nhân sự “ấn tượng” nhất: Đến năm 2020, Hà Nội sẽ là “thành phố tiến sĩ” với mục tiêu buộc 100% cán bộ khối chính quyền diện Thành ủy quản lý phải có trình độ tiến sĩ!

          10. Từ thiện kỳ cục nhất: Trào lưu cởi áo tụt quần chụp ảnh nuy để làm… từ thiện của các hoa hậu, người mẫu, diễn viên điện ảnh. (Đây là sự kiện văn hóa duy nhất lọt vào bảng topten ấn tượng Việt 2009).

Nguồn: Trương Duy Nhất – “Một góc nhìn khác”

http://truongduynhat.wordpress.com/2009/12/31/topten-%e1%ba%a5n-t%c6%b0%e1%bb%a3ng-vi%e1%bb%87t-2009/

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Mười Hai 22, 2009

Chúc mừng 65 năm QĐND Việt Nam, Noel & Tết Tây bụi

Top 15 bài hát từ 2000-2009 do blog  Tây Bụi đánh giá: 

http://taybui.blogspot.com/2009/12/top-15-2000-2009-phan-1.html

Đi đâu, xem gì vào Tết Tây bụi:

http://clip.vn/

“Tây ba lô không Tết ở xứ ta”

http://vietnamnet.vn/xahoi/201001/Tay-ba-lo-khong-Tet-o-xu-ta-887340/

Gửi lời chúc Năm mới 2010 tới tất cả các bạn:

http://www.123greetings.com/send/view/12631809701427858366

Kể cũng lạ, hội nhập rồi mà vào đúng đêm Noel và giao thừa Tết Tây bụi mà mở TV thì chỉ có gạch và số, dường như mọi nhà ở ta đều tắt đèn đi ngủ vào lúc này.

Noel và Tết Tây bụi lại vào đúng những ngày trong khỏang “Mồng 5 liềm giật,…. 16 thật trăng”, trăng16 là trăng thật tròn, nhưng lại vào mùa Đông nên trời về đêm cũng không sáng lắm, tặng các bạn bài hát lúc ra đường ban đêm hồi còn nhỏ (để tự động viên mình và làm chỗ dựa cho người khác):

“Đêm qua tôi ra thăm đồng đêm tối không trăng không sao

Đêm qua tôi ra thăm đồng đêm tối không trăng không sao

Trên cây đa cao cao gió đưa vi vu

Trên cây đa cao cao gió đưa vi vu hình như có bóng người đi…

Răng ma nhe dài như cái đinh ba toong

Răng ma nhe dài như cái đinh ba toong….

Tôi lăn ra đồng tôi khóc tôi kêu u tôi

Tôi lăn ra đồng tôi khóc tôi kêu u tôi

U tôi ra ngay, ra ngay, mắng: 

Con trai tôi… (hừ hừ hừ)

U tôi ra ngay, ra ngay, mắng:

Con trai tôi mà sao nhát thế hở con?”

Em yêu anh bộ đội

Một bạn giọng hát hay, to và vang bước lên phía trước cất tiếng hát:

Sáng hôm nay anh tôi vác súng

Vác súng ra thao trường

Anh bắn như thế này

Anh bắn như thế kia

Như thế này là như thế kia

Hỡi anh ơi, anh chăm bắn súng

Bắn súng bảo vệ xóm làng

Cho vui lòng Bác Hồ

Cho vui lòng chúng em

Vui Bác Hồ là vui chúng em”

Tất cả các bạn khác cùng hòa theo: “Em yêu anh bộ đội, anh bộ đội là anh bộ đội!”

(Kỷ niệm Trại Nhi đồng Miền Bắc)

Mười yêu anh bộ đội

“Một yêu anh bắn rất tài
Bách phát bách trúng chẳng sai phát nào
Hai yêu anh nhảy thật cao
Thành nào cũng vượt, hố nào cũng qua
Ba yêu yêu lựu đạn ném ra
Từ năm mươi thước trở ra mới tài
Bốn yêu anh chạy dẻo dai
Thi đua chẳng để cho ai dẫn đầu
Năm yêu chính trị hiểu sâu
Đi đôi quân sự thuộc làu tinh thông
Sáu yêu súng ống phổ thông
Liên thanh cũng biết, ca-nông cũng rành
Bảy yêu nỗ lực đua ganh
Lập công giết giặc nổi danh xa gần…”

(Nguồn: lấy từ diễn đàn khác)

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Mười Hai 18, 2009

Chú Cơ mất

Chú Nguyễn Quang Cơ - chồng cô Khanh (Trại Nhi đồng Miền Bắc), bố của các bạn Nghĩa và Hiếu, đã mất vào hồi 11 giờ 30 phút ngày 14/12/2009 (tức ngày 28 tháng 10 năm Kỷ Sửu) tại nhà riêng sau một thời gian dài lâm bệnh. Nhiều cô và bạn đã đến thăm chú, gần đây nhất là mọi người đã tập trung tại nhà cô để kỷ niệm ngày 20/11, nhân dịp đó cùng lên thăm chú. Nay em Hiếu đã làm xong luận án tiến sĩ tóan trở về nước nên chú cũng yên tâm nhắm mát xuôi tay đi về nơi vĩnh hằng. Cô Khanh cũng đã từng hướng dẫn nhiều bạn học tập và từng chở bạn Hồng Hà bằng xe đạp từ Lập Thạch (Vĩnh Phúc) về Hà Nội để đi thi học sinh giỏi tóan tòan Miền Bắc thời sơ tán. Hôm các bạn ở trại sơ tán về thăm  lại trường cấp II Tân Lập cũng đã gặp lại thầy dạy tóan của Hồng Hà, Cẩm Tâm, Liên Hoa, Tạ Lâm, Xuân Tiến, Tam Anh, Phương Anh, Hòang Sa, Thanh Yên, Nguyệt Ánh,… và mọi người cũng nhắc lại kỷ niệm cũ rất cảm động về cô Khanh. Hồng Hà nay đã trở thành một GĐ công ty tin học tư nhân (tuy chưa nổi tiếng). Không chỉ Hồng Hà mà nhiều người trong chúng ta đã nên người từ sự chăm sóc của các cô. Trong mấy ngày vừa qua mọi người đã đến giúp đỡ cô Khanh, Nghĩa, Hiếu và gia đình rất nhiều để chuẩn bị lễ tang cho chú.

Lễ truy điệu chú vào lúc 11 giờ ngày 19/10/2009 (tức 4 tháng 11 năm Ất Sửu) tại nhà tang lễ Bộ Quốc phòng. Mong các bạn biết được tin này về tập trung đông đủ để dự lễ chia tay với chú Cơ vào lúc 10 giờ 30 cùng ngày.

—————————————-

Cuối cùng, hơn hai chục bạn đã biết tin và về chia buồn cùng cô Khanh, Nghĩa và Hiếu đúng ngày giờ. Bạn Tây Bắc đã dẫn đầu đòan vào viếng chú Cơ. Một số bạn đưa chú Cơ đến nghĩa trang Văn Điển.

Đăng bởi: leminhtam | Tháng Mười Hai 13, 2009

Chống tham béo

Theo tích Tây: Hòang hậu trong nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn”

“Gương kia ngự ở trên tường/ nước ta ai béo được dường như ta?

Thưa bà, bà béo đẹp nhất, không ai béo đẹp hơn bà”

Theo tích ta: Oan Thị Mầu trong “Quan âm Thị Kính”

“Này chị em ơi!”"Sao?”

Ở nhà có 9 chị em, thì chỉ có mình em là chín chắn nhất, ấy chị em ơi!”

“Vì sao?”

“Vì chỉ mình em vừa biết đá bóng lại vừa biết thổi còi, ấy chị em ơi!” 

“Thế sao?”

“Chứ sao… i ì i i í i i i…. (cốc cốc cốc….)

Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non”

“Ngon ngon!” (Giọng ông hàng xóm râu xồm ở đâu bỗng ồm ồm vang lên hòa cùng một giọng với tiếng chị em có tâm hồn ăn uống sành điệu lảnh lót từ đâu đó trong sân khấu vọng ra, tuy hình ảnh hiện ra trong đầu chị em lúc này chỉ là bát bánh trôi thơm phức mùi gừng, nghi ngút khói giữa mùa Đông giá rét của bà Hồ Xuân Hương, chứ đâu giống như hình ảnh mà ông ta tưởng tượng ra trong đầu). Ông ta tiếp tục kêu “Chẹp chẹp!”, rồi ồ ồ cất lên:

“Sương mai í ì mai lấp lánh

Kìa, mà ai gánh, gánh hàng ra

Kìa, mà hàng ai gánh như hàng hoa

I í í ì i ì í ì i…”

Còn giọng chị em thánh thót: “Mầu vất vả vì nước non quá nhỉ? Hi hi hi….” rồi đồng thanh hát theo ông xồm tuy mỗi người mỗi lời khác nhau:

“Sương mai í ì mai lấp lánh

Kìa, mà ai gánh, gánh hàng ra

Kìa, hàng ai nghi ngút khói như màn sương

I í í ì i ì í ì i…”

Thẹn thùng e lệ, đưa một ngón tay chỏ lên má, xoay xoay nghiêng nghiêng về phía trong sân khấu. Rồi lấy cái quạt che che một nửa đôi mắt lá răm, vừa đủ để hở phần lẳng lơ vừa đủ để dấu phần mắt liếc quanh sắc như dao cau, chúm chím cười làm duyên.

Tài liệu tham khảo

[1] “Khi quan chức làm doanh nhân”

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=180241&ChannelID=2

[2] Trong khi đó, “Cấm cựu công chức kinh doanh”

http://www.phapluattp.vn/270454p0c1014/lung-tungnbspkhi-cam-cuu-cong-chuc-kinh-doanh.htm

[3] “SCIC kêu oan”

http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2009/12/3BA16B3C/

[4] “Quan chức không nên kiêm nhiệm”

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=180540&ChannelID=2

[5] “Sự tích Quan Âm Thị Kính”

http://vi.wikipedia.org/wiki/Quan_%C3%82m_Th%E1%BB%8B_K%C3%ADnh

[6] “Hợp tác giữa Bộ Tư pháp và Dầu khí”

http://www.blogosin.org/?p=1084

[7] “Cơ chế lương lãnh đạo không quá bất hợp lý”

http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/Kinh-nghiem/2010/01/3BA177C2/

[8] “Nguyên tổng giám đốc Jestar Pacific Airline bị bắt tạm giam”

http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=357364&ChannelID=6

http://dantri.com.vn/c20/s20-371797/bat-tam-giam-nguyen-tong-giam-doc-etstar-pacific-airlines.htm

[9] “TKV bị tố làm giá: Biến thái của độc quyền?” 

http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1364&Chitiet=7331&Style=1

[10] “TKV giải thích việc móc túi bạn hàng”

http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/201001/Tap-doan-Than–Khoang-san-VN-khong-doc-quyen-van-chuyen-890573/

Bài viết cũ hơn »

Chuyên mục