Người ta thường nghĩ phóng viên thời chiến, phóng viên chiến tranh là những người gian khổ nhất. Bởi họ có thể mất mạng bất cứ lúc nào vì bom rơi đạn lạc (như cô Dương Thị Xuân Quý vấp phải lựu đạn do địch cài trên đường đi công tác), họ có thể rơi vào tay kẻ thù và bị bắn chết (như cô Lê Kim Phương không quen đi cầu khỉ ở vùng Nam Bộ nên đã bị tụt lại sau, bị địch bắt và bị bắn chết),… Thế nhưng thực tế cho thấy, phóng viên thời bình cũng gian khổ chẳng kém cạnh gì, nếu họ là những nhà báo theo đúng nghĩa nhà báo.
Năm vừa qua và cho đến hôm nay, mặc dù trong thời bình, chúng ta đã chứng kiến cảnh nhà báo bị đánh máu me bê bết; nhà báo bị khởi tố bắt giam ngồi tù; nhà báo có chồng là phi công bị rơi máy bay đúng vào dịp kỷ niệm “ngày nhà báo VN 21/6″; nhà báo bị buộc thôi việc, bị đóng cửa blog riêng của mình; nhà báo bị ném bom bẩn; hàng loạt TBT bị cách chức;… Khổ vô cùng. Nhưng khổ vậy, họ vẫn làm báo.
Tôi xin trích một đọan nhỏ trong cuốn hồi ký của mẹ tôi – một phóng viên, đọan lý giải “vì sao má viết hồi ký?” để các bạn hiểu là chúng tôi được lớn lên trong vòng tay “các nhà báo”, đó chính là các bà mẹ – phóng viên của chúng tôi và chúng tôi yêu các nhà báo đến nhường nào. Hồi ấy Tòa sọan báo không chỉ là nơi chúng tôi lui tới để chui vào lòng mẹ mình vòi vĩnh khi đói ăn, khi sợ hãi mà đó còn là mái nhà của chúng tôi, là sân chơi của chúng tôi, là trường mầm non của chúng tôi, là nơi chúng tôi bị phạt nhốt vào hầm đựng báo mỗi khi có lỗi hay hư hỗn với người lớn,… Báo và các bài viết do bạn đọc gửi tới không chỉ là quyển sách vỡ lòng đầu tiên để chúng tôi tập đánh vần mà còn là đồ chơi để chúng tôi gấp thuyền, gấp máy bay, là đồ giải trí khi bị nhốt phạt để qua khỏi cơn sợ hãi,… sau này còn trở thành nghề nghiệp của một số người (thí dụ Trần Thanh Bình con cô Thành Tín trong bài “Vì sao tôi yêu nghề làm báo” mà tôi đã đăng ở trang Trại nhi đồng của tôi, như bé Ly, Minh Hạnh, Việt Hoa,…). Chúng tôi đã ấp ủ, mang trong tim mình những lá thư từ chiến trường do các “phóng viên – người mẹ” của mình gửi tới bất kỳ nơi nào có con của họ đang học, đang làm việc hoặc đang chiến đấu dù đó là ở nơi lạnh giá nhất, xa xôi nhất, hoang mạc nhất hoặc gian khổ và ác liệt nhất (thí dụ: những lá thư mà cô Lê Kim Phương đã gửi cho Như Anh, Như Hà khi các bạn đang học tập ở LX cũ mà tôi cũng đã đăng trong trang Trại nhi đồng của tôi). Tôi có thể nói một cách rất thật, không phải thấy “người sang bắt quàng làm họ” một tý nào, các nhà báo có tiếng tăm hiện nay như Nguyễn Công Khế, Ngô Thị Kim Cúc,… đã cùng mẹ tôi và tôi nấu ăn, đi chợ, đi thăm thành phố Sài Gòn,… họ là những thanh niên miền Nam đầu tiên mà tôi được tiếp xúc, dẫn dắt tôi đi thăm phố phường Sài Gòn sau ngày giải phóng. Còn các cô TBT như cô Ngọc Nghi, cô Thanh Hương, cô Lan Anh có những mối tình như thế nào thì bọn trẻ con trong tòa sọan như chúng tôi đều nắm vững (thí dụ: tôi đã kể cho các bạn nghe trong trang Trại Nhi đồng của tôi là tôi đã nhìn thấy chú Bảo đi xe đạp mang áo mưa đến tòa sọan cho cô Lan Anh và chòang áo mưa cho cô, hình ảnh hai người đẹp như thế nào, làm tôi đang lội nước trời mưa – một niềm thích thú nhất của bọn trẻ “nhà báo” bấy giờ, cũng phải đứng ngây ra nhìn và nhớ mãi. Thế mà chỉ mầy năm sau chú hy sinh ở cầu Hàm Rồng).
“Má công tác ở ngành báo chí luôn phải đi công tác xa. Khi có chiến tranh phá hoại địch đánh nơi nào cũng phải đến, phải trực chiến tại Thủ đô Hà Nội. Trong chiến dịch Hồ Chí Minh, Má khăn gói lên đường đi vào Nam để viết. Rồi tiếp quản thành phố Sài Gòn, phụ trách Phòng thường trú Báo Phụ nữ tại thành phố. Má sống tại thành phố Hồ Chí Minh, công tác, lo cho các con ăn học như thế nào, đó là những trang hồi ký Má ghi lại ở đây, chắc chắn không thể nào ghi hết được. Các con sẽ cố gắng đọc để hiểu được một phần cuộc đời Má từ một thiếu nữ nhút nhát con nhà khá giả, một học sinh chưa đến tuổi vào đời đã có thể chịu đựng được những gian khổ ác liệt của cuộc chiến tranh và nuôi con khôn lớn trưởng thành. Công việc của Má là một công việc bình thường như mọi người cán bộ khác cùng tham gia kháng chiến khác như Má, nhưng mỗi người một cảnh khác nhau, gian khổ cũng khác nhau, ác liệt cũng khác nhau nên kỷ niệm sống cũng khác nhau. Hồi ký của Má chủ yếu là những chuyện gia đình, chuyện của từng đứa con khi còn nhỏ. Má nhắc lại để các con thêm yêu Ba Má, thêm yêu thương yêu nhau bởi vì trong khó khãn gian khổ chúng mình đã có một gia đinh êm ấm, sướng khổ có nhau”.
Cài trang Trại Nhi đồng của tôi vào WordPress.com cũng chính là tôi muốn trang này được sống trong vòng tay (hay còn gọi là môi trường) của các nhà báo thế giới, muốn các bạn biết về sự dũng cảm và sự hy sinh của họ trong cuộc chiến đấu vì chân lý, vì cuộc sống hạnh phúc và yên ổn của con người. “Theo Ủy ban bảo vệ nhà báo, số nhà báo bị sát hại trong năm 2009 đã lên đến con số kỷ lục: 68 người, trong đó có 31 người trong vụ thảm sát con tin ở Philippines. Trước đó, năm có nhiều nhà báo bị sát hại nhất là 2007, khi có đến 67 nhà báo hoặc bị mưu sát hoặc bị chết trong cuộc chiến tại Iraq. Năm 2008, số nhà báo bị thiệt mạng là 42 người”
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=354180&ChannelID=2
Chép một đọan nữa trong bài “Cùng tuổi 20″ mà tôi đã viết cho Báo PNVN nhân dịp kỷ niệm ngày Nhà báo VN cách đây 5 năm (năm 2005) để các bạn thấy rõ mặc dù biết con đường đi phía trước là nguy hiểm nhưng các “PV – người mẹ” của chúng tôi vẫn tiếp tục đi. Người còn sống chỉ cho các con biết mẹ của họ đã mất ở nơi nao. Bài hát “bao đêm ngày tôi đi kiếm tìm quanh, nơi nao người tôi yêu nấm mồ xanh, lang thang tìm không thấy tôi đi cho đến bao giờ, chín suối hay chăng…” chính là hình ảnh của Như Anh, Như Hà, Lê Trực, Lê Hương, bé Ly,… đi tìm nấm mồ của mẹ mình sau chiến tranh. Chính là hình ảnh cô Trình và em Phương đi tìm nấm mồ của chồng, của bố mình; chính là hình ảnh của cô An và em Liên đi tìm nấm mồ của con trai, của anh trai mình mà cho đến giờ họ vẫn chưa tìm thấy. Có rơi nước mắt không khi nhìn tấm hình cô Trình ôm tấm bia mộ của một liệt sĩ cũng hy sinh ở Quảng Ngãi, cùng năm, cùng tên giống chú (không có quê quán, không ghi thân thế sự nghiệp) mà không thể biết rõ đó có phải là chồng mình hay không?
“Còn mẹ Như Anh thì đã hy sinh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long. Cô vào Nam từ năm 1967 để chuẩn bị viết về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Sau này, mẹ tôi cũng được điều động vào Nam tháng 1/1975 trong đợt Báo PNVN đưa các phóng viên của mình vào để chuẩn bị viết bài cho chiến dịch năm 1975. Mẹ tôi đi vào chính con đường mà mẹ Như Anh đã đi. Đây là con đường nằm trong vùng rất ác liệt, đêm “giải phóng”, ngày “cộng hòa”, nên tối đi còn ngày nghỉ, lúc trời tối không rõ mặt người nữa thì có người mang thúng cơm nắm để lên đường cho cán bộ ăn nhưng không hề lộ mặt. Phải có tới 13 giao liên cùng với hai bộ đàm đi trước và đi sau để bảo vệ cho 3 phóng viên từ Bắc vô (má tôi, cô Hà Nhung và một chú ở Báo QĐ). Trên con đường này từng có cô Lê Thị Đoan (mẹ của Lê Trực và bé Hương), cô Lê Mai – là những phóng viên của Báo PNVN đã hy sinh trước má Như Anh. Nó ác liệt bởi đó là con đường từ Trung ương cục Miền Nam vào Khu 8. Mẹ tôi đã đến thăm nơi mẹ Như Anh bị giặc bắn là chợ Ông Tranh ở Mỹ Tho. Trên đường vào Nam này còn có cô Dương Thị Xuân Quý (mẹ của bé Ly) cũng đã ngã xuống ở Duy Xuyên (Quảng Nam). Sau này chồng cô đã viết cả một bài thơ về “Hạnh phúc” với câu mở đầu bài thơ này:
“Thôi em nằm lại, với đất lành Duy Xuyên. Trên mồ em có mùa Xuân ở mãi, trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên”
Má tôi kể lại, má Như Anh hy sinh trong một trận càn, giặc đuổi theo, cô bị rớt lại sau cùng vì cô hơi mập lại lâu ngày xa quê hương không quen đi cầu khỉ nên phải bò trên cầu. Giặc bắt được trói cô vào một gốc cây, cô mắng bọn chúng, nghe giọng chúng biết cô từ Bắc vô. Tên chỉ huy muốn giữ cô để khai tiếp nhưng cô mắng chúng liên tiếp làm chúng điên tiết bắn cô luôn. Hôm sau bà con nơi cô công tác đi ra chợ, theo lời bọn lính kháo nhau mới biết tin cô đã bị bắn. Ngay buổi tối hôm đó họ bò ra đưa xác cô về và chôn cô trong một bao nilông (thường dùng để bọc xác lính Mỹ tử trận). Cho tới khi Như Anh về nước, đi tìm mộ mẹ và thấy xác mẹ vẫn còn nguyên như mới vừa được đem chôn. Trên trán mẹ, nơi vết thương do giặc bắn đã được bà con quàng lên trên một chiếc khăn rằn đặc trưng của phụ nữ Nam Bộ và vết máu trên miệng mẹ vẫn còn nguyên“.
Tôi đã viêt bài này trong một lần mẹ tôi ra HN thăm tôi, hai mẹ con đến thăm cô Thanh Hương. Mẹ tôi kể, tôi ghi lại, cô Thanh Hương và tôi cùng nhớ lại bài thơ “Hạnh phúc” (mà tôi đã mang theo trong suốt 6 năm học đằng đẵng ở nước ngòai, sau đó bị một bạn khác cùng quê lấy trộm mất), cô chỉnh trang lại từng câu, từng chữ cho chính xác vì bài đó tôi chỉ còn ghi lại trong trí nhớ của mình. Cô Thanh Hương muốn mượn cuốn Nhật ký chiến trường mà mẹ tôi đã ghi lại về chuyến đi vượt Trường Sơn của mình. Cô nói “các cháu phải hết sức trân trọng giữ gìn những trang nhật ký đó, vì đó là tư liệu rất quý”. Cô đúng là cô TBT và đúng là vợ của một nhà văn nổi tiếng – chú Vũ Tú Nam, nguyên CT HNV ngày nào.
(Còn nữa)
ưa vào sách giáo khoa: “Cái tuổi hai mươi khi hướng đời đã thấy/ Thì xa xôi biết mấy cũng lên đường/ Sống ở Thủ đô mà dạ để mười phương/ Nghìn khát vọng chất chồng mơ ước lớn”. Không chỉ ca ngợi cách mạng bằng vần điệu chảy bỏng, Bùi Minh Quốc đứng vào hàng ngũ của bao nhiêu văn nghệ sĩ bước vào khói lửa chiến trường với ý chí giữ nước cao cả và thiêng liêng. Thời gian gần đây, Bùi Minh Quốc ít có điều kiện trực tiếp tham gia những hoạt động văn chương, nhưng nếu chúng ta thờ ơ với ông thì thực sự làm xót xa thêm những câu thơ ông đã viết: “Có khi nào trên đường đời tấp nập/ Ta vô tình đi lướt qua nhau/ Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất/ Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu”. Vì vậy, lethieunhon.com mời bạn đọc cùng chia sẻ với nhà thơ Bùi Minh Quốc phút giây “rất lâu, tôi ngồi im nhìn ngọn lửa bập bùng” 40 năm trước. 









![XINHXINH_182337707[1]](http://quechoablog.files.wordpress.com/2009/12/xinhxinh_1823377071.jpg?w=350&h=470&h=470)